Những ca sĩ xuất thân từ miền Bắc sau 1975 đã giết chết âm nhạc miền Nam như thế nào?

“Nếu từ 1954, cộng sản đã giết chết âm nhạc ở miền Bắc như thế nào thì sau 1975, các ca sĩ xuất thân từ miền Bắc sau 1954 đã giết nhạc miền Nam như thế ấy. Âm nhạc Việt đã đi qua hai lần chết…”

Chắc là bạn đã từng nghe ca sĩ Hồng Nhung hát. Một giọng ca điêu luyện, rất hay – không ai phủ nhận. Nhưng, như cố nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 đã có lần phê bình rằng Hồng Nhung, hay Thanh Lam, Mỹ Linh, Bằng Kiều… là những ca sĩ được đào tạo bài bản, nhưng chính kỹ năng của họ đã giết chết âm nhạc khi trình diễn. Khi mà kỹ thuật điêu luyện và năng lực lên giọng thật cao, kéo hơi thật dài đã trở thành trọng điểm, thì chúng trở nên khuyết điểm. “Rằng hay thì thật là hay” – nói theo cụ Nguyễn Du, nhưng khi nghe Hồng Nhung hay Bằng Kiều hát – thì “nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào.”

Khi ca nhạc chỉ là một sự trình diễn kỹ thuật hát xướng thì cái hay của nó chỉ còn là hương vị khô cằn. Hãy so sánh Hồng Nhung, Bằng Kiều với Lệ Thu và Chế Linh. Khi hai ca sĩ miền Nam này hát, họ không mang nặng tính trình diễn – mà họ chỉ hát một cách tự nhiên, chân thành, mà yếu tố kỹ năng không là trọng điểm.

Khi Lệ Thu bước ra sân khấu, chị đi chậm rãi nhẹ nhàng; khi Chế Linh bắt đầu hát, đôi mắt của anh như trải qua cơn mê hoặc hay đang say rượu. Cái chất nhạc và lời ca đã thôi miên tâm hồn của họ trước khi cất lời. Âm thanh Lệ Thu ướt đẫm cảm xúc thanh ngọt; Giọng ca Chế Linh đậm đà như cơm nếp miệt vườn.

Trong khi đó, giọng ca Hồng Nhung, Bằng Kiều mang âm hưởng của cái gì đó không thật, nghe ra thì nông cạn – và nhất là cái âm sắc giả dối.

Kỹ thuật luyến láy của họ nắm đầu dây chuyển động cho lời ca – và câu hát càng lên cao, càng kéo dài thì nó càng giao hoán tình cảm tâm hồn về vị thế phụ thuộc và bị coi nhẹ.

Minh họa: Jace & Afsoon/Unsplash

Nghe Bằng Kiều hát xong, không có gì còn lại trong tâm tư người nghe; khi Hồng Nhung chấm dứt câu ca kéo dài như bất tận, thì khán giả mơ hồ thấy cô ca sĩ này như muốn được vỗ tay vỡ rạp.

Khi âm nhạc đã bị ngoại thân hóa – tức là hát nhạc một cách vô hồn, vô cảm – thì âm nhạc đã bị phản bội.

Ví dụ, bài “Đêm thấy ta là thác đổ” của Trịnh Công Sơn, chẳng hạn. Cố Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến ở Trường Viết văn Nguyễn Du thuở trước ở Hà Nội từng cho đó là bài ca với lời thơ hay nhất của tân nhạc Việt Nam.

Bạn hãy lên YouTube nghe Lệ Thu hát bài này, sau đó nghe Hồng Nhung hay Mỹ Linh, Thanh Lam cũng bài đó. Xong rồi bạn sẽ hiểu tại sao giáo sư Hiến tôn vinh bài ca này của họ Trịnh như thế. Đơn giản thôi, vì ông nghe Lệ Thu hát nó.

Cũng một lời ca, “Rồi bên vết thương tôi quỳ,” thì Lệ Thu làm cho một người sành điệu Hà Nội như giáo sư Hiến cảm nhận được cái tính chất bi tráng trong khiêm cung của thân phận làm người Việt Nam. Cũng với chừng lời đó, Hồng Nhung hay Thanh Lam hát thì chỉ làm cho chúng ta quên mất ý nghĩa, cũng như âm hưởng không đụng đến trái tim, từ lời nhạc, mà làm ta chỉ nghĩ đến cung khúc thuần kỹ năng.

Miền Nam trước 1975 có rất nhiều nhạc sĩ ở tầm cao. Từ Lê Thương đến Trầm Tử Thiêng; từ Cung Tiến đến Ngô Thụy Miên, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, hay Lam Phương, Trần Thiện Thanh.

Nhưng ca sĩ thì chỉ có hai người. Đó là Lệ Thu và Chế Linh. Hai ca sĩ này là hiện thân khá tràn đầy tâm chất miền Nam thuở đó. Lệ Thu là biểu trưng một thể loại nhân cách, tầm mức ưu hạng từ tri thức đến giọng nói, của một tâm hồn miền Bắc trước 1954 di cư vào Nam; trong khi Chế Linh là một niềm rung cảm từ một nền văn minh đã bị diệt vong của miền Trung, mà giọng ca ngọt ngào và chân tình bi đát của anh phản chiếu một âm hưởng bi hùng ở nơi một linh hồn vong quốc.

Trong khi đó, ở miền Bắc từ 1954, sau cái thời của nhạc Tiền chiến và Văn Cao, khi mà năng lực quốc gia chỉ để dành cho chiến tranh, ta chỉ còn thấy một sa mạc hoang vu cho tân nhạc và ca sĩ. Có lẽ bài ca xứng đáng nhất cho thuở ấy là “Năm anh em trên chiếc xe tăng.” Cái hay ý nhị của “Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây” khi đã chuyển qua bài xe tăng này, đã trở thành một điều nhí nhỏm như là một bài đồng ca cho trẻ em hát – mà khi vừa vỗ tay, vừa hát, các em tất cả đều nhoẻn miệng cười to, không ngậm lại được.

Từ trong hoang mạc âm thanh đó, những Bằng Kiều, Hồng Nhung, Thanh Lam, Mỹ Linh được phát sinh. Khi các ca sĩ miền Bắc này cất lời ca cho một bài thật là “sến” của Tú Nhi chẳng hạn, thì họ chỉ nâng cao kỹ năng của “Năm anh em trên chiếc xe tăng” vào một dòng nhạc vốn đã phủ nhận cái kỹ năng đó tự bản chất.

Cho dù Hồng Nhung, hay Thanh Lam, Mỹ Linh, có cố gắng bao nhiêu đi nữa, thì họ cũng sẽ không khai mở và chuyên chở được dòng mạch ngầm linh cảm của nhạc Trịnh được. Và khi Bằng Kiều muốn hát nhạc Chế Linh, anh ta đã gột bỏ hết cái chất “sến” rất bình dân, rất thật tình, rất gần gũi của thể loại ca từ và âm hưởng bolero đó.

Âm nhạc khác với toán học – điều dĩ nhiên. Trong khi số học phát huy tính đơn vị đơn lập, thì âm nhạc mang bản sắc liên đới. Một con số tự nó mang một ý nghĩa quy định, nhưng một nốt nhạc, một lời ca đơn thuần chỉ là số không vô nghĩa.

Tính liên đới của âm nhạc không những chỉ mang tính nội hàm, tức là từ nốt này chuyển sang nốt kia, lời này tiếp lời trước, mà bao gồm tính quan hệ tương tác giữa lời ca, nốt nhạc – và quan yếu nhất là giữa ca sĩ với người nghe.

Khi ca sĩ hát, như Hồng Nhung hay Bằng Kiều cất tiếng ca điêu luyện của họ, tính tương tác giữa người nghe và ca sĩ bị cắt đứt. Ta không thấy cảm thông, không bị xúc động bởi bài ca họ hát được.

Ngược lại, khi nghe Lệ Thu hát “Hẹn Hò” của Phạm Duy, Chế Linh hát “Túy Ca” của Châu Kỳ, người nghe bị cuốn vào âm hưởng nơi lời ca – như thấy mình được trôi chảy hay nâng cao bằng cảm xúc cho đến cuối bài.

Cũng những lời ca, nốt nhạc ấy, nhưng khi Hồng Nhung hay Bằng Kiều hát thì thấy linh hồn của nhạc đã bỏ rơi âm thanh. Nỗi khát khao được vỗ về và an ủi cho cuộc đời bình nhật đau thương nay khi nghe họ hát đã trở nên một gánh nặng mệt nhoài.

Nếu từ 1954, người cộng sản đã giết chết âm nhạc ở miền Bắc như thế nào thì sau 1975, các ca sĩ xuất thân từ miền Bắc sau 1954 đã giết nhạc miền Nam như thế ấy. Âm nhạc Việt đã đi qua hai lần chết. Một đằng thì chính trị phủ định tâm hồn cá nhân qua âm hưởng; đằng này thì kỹ năng trình diễn thiếu tâm hồn đã hủy hoại ca từ bằng ý chí xác định ngã thức qua âm thanh.

Mỗi lần nghe Hồng Nhung hát nhạc Trịnh, hay Bằng Kiều hát bolero, ta thấy như họ cầm dao sắc ngọt ngào cắt đứt bản nhạc cũ mòn trên tay. Những ai đã từng nghe Chế Linh hát “Thói Đời,” xong nghe qua Bằng Kiều hát “Hoài Cảm” hay “Đắp Mộ Cuộc Tình” thì sẽ thấy điều này.

Một đằng là cơm gạo đồng quê mới giã cối ăn với rau dền hái sau vườn, đằng kia là chiếc bánh hamburger của tiệm McDonald’s nơi góc phố đầy âm thanh. Ôi là cái thời của tiếng ồn thay cho âm hưởng.

Lần nữa, âm nhạc Việt đã trải qua hai ba lần chết. Một đằng bởi ý chí chiến thắng, một đằng với nghệ thuật hòa bình. Không ngạc nhiên gì mà sau 1975, âm nhạc Việt Nam không còn ai sáng tác gì mới và hay nữa.

Vâng, kỹ năng hát cũng như là kỹ thuật karaoke tối tân từ công nghệ Nhật Bản. Cả hai cùng là dao sắc đâm chết âm nhạc Việt. Với karaoke, ngày nay, xã hội và con người Việt ta lại còn chịu đựng thêm một cái chết âm nhạc nữa. Đó là cái chết rất hồn nhiên và bình dân từ năng ý trình diễn của dân ta.

Hằng đêm, khi ta đi vào bất cứ ngõ phố nào, làng quê nào, thì các loa karaoke inh ỏi cũng muốn bắt chước Hồng Nhung, Bằng Kiều để mà giết chết Chế Linh và Lệ Thu. Trong thao thức vì mất ngủ bởi đám ca sĩ miệt vườn eo éo thâu đêm bên hàng dậu, ta mới cảm nhận được cái ý từ câu ca của nhà Trịnh, “Người chết (ba) lần thịt da nát tan.” Cho nên khi nghe tin Lệ Thu qua đời ở California, chúng ta phải cùng tiếc nuối. Bởi vì, cái chết của Chị là dấu ngoặc cho một Thời Quán âm nhạc Việt Nam đã đi qua và không bao giờ trở lại. Nhạc Việt đã bị giết chết từ lâu. Kể từ nay sẽ không còn một Lệ Thu, một Chế Linh nào cho chúng ta nghe và đồng cảm nữa.

Chuyên đề bookmark

Tản mạn

Chuyên Đề: Tản mạn

Mồ hôi của đá…

Hoa Quỳnh Nguyễn (23/04/2026)

Khi đọc Mồ hôi của đá của Nhật Tiến trong mạch đối chiếu với Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh hay các tác phẩm của Phan Nhật Nam, tôi dần nhận ra, chiến tranh trong văn chương đã định hình cách một thành phố mang nỗi đau của tôi…

“Dạ, xin lỗi cho em qua…”

Hoa Quỳnh Nguyễn (15/03/2026)

Tôi là người Hà Nội và rõ ràng tôi có niềm kiêu hãnh của mình, luôn là thế. Sự kiêu hãnh ấy khiến tôi vừa có một nửa kiêu kì, vừa có một nửa tò mò. Tôi nhìn thế giới bằng ánh mắt của người tin rằng mình hiểu nhưng…

Tôi và Hà Nội và Tokyo

Hoa Quỳnh Nguyễn (01/01/2026)

Mỗi lần trở về Hà Nội, tôi đều có cảm giác mình đang mắc kẹt giữa hai mép thời gian, không hẳn là chia tay cũng không đủ can đảm để ở lại. Tôi hạ cánh xuống Nội Bài vào một buổi sáng mưa phùn, giọng chị Bống vang lên…

You Needed Me – Vì anh cần có em

Tidoo Nguyễn (27/11/2025)

Ca khúc “You needed me” giống như đốm lửa hồng nhen nhóm giữa trời đông lạnh giá, truyền hơi ấm đến trái tim của người từng trải qua tổn thương tinh thần trước sự biến động trong đời. Câu chuyện ẩn trong ca khúc có ý nghĩa tích cực vì…

Mùa ‘đông’ Sài Gòn nhớ đến ‘đông’ quê

Tidoo Nguyễn (18/11/2025)

Miền Nam chỉ có hai mùa nắng mưa nhưng cũng có một khoảng thời gian ngắn ngủi mà người miền Nam gọi là hơi hướng của mùa đông từ giữa Tháng Mười Một cho đến Tháng Mười Hai hàng năm. Thời tiết lúc này mát hơn so với các tháng…

Bài Ngẫu Nhiên

Cuộc tàn sát báo chí của AI

TheNewViet (31/10/2025)

Khi các công ty công nghệ lần đầu tung ra những sản phẩm AI tạo sinh (generative AI), một số nhà phê bình đã lập tức lo sợ về viễn cảnh sụp đổ của ngành truyền thông. Mọi sản phẩm viết, hình ảnh hay video đều trở nên đáng ngờ….

Văn hóa học hỏi trong một tổ chức (Learning culture)

Nguyễn Quốc Toàn (09/07/2020)

Đối với tôi thì nỗi đau khổ và cay đắng lớn nhất là các cộng sự, nhân viên lâu năm của mình bị tụt hậu và trở thành người thừa khi công ty liên tục phát triển. Có người đã cống hiến “cả tuổi thanh xuân” cho công ty để…

10 Tiểu Luận Harvard Xuất Sắc (Bài 7)

Hoàng Anh (14/08/2020)

Chuyên san The Harvard Crimson (thuộc Đại học Harvard) đã đăng 10 bài tiểu luận xuất sắc năm 2019 của các em học sinh trung học thế giới khi nộp đơn xin vào Harvard, giúp tham khảo và học được cách viết một bài tiểu luận thành công nhằm có thể lọt…

Ưng Lang và “Mưa rơi”

Huỳnh Duy Lộc (01/11/2020)

Người nhạc sĩ đầu tiên của xứ Huế mang dòng máu hoàng tộc là nhạc sĩ Ưng Lang, tên thật là Nguyễn Phước Ưng Lang, sinh năm 1919 tại Huế, mất năm 2009. Ông bắt đầu sáng tác nhạc từ năm 1940, là nhạc sĩ đầu tiên dạy đàn hạ…

Món nợ tuổi hai mươi

Trần Trung Đạo (19/09/2025)

Đọc nhật ký của Nguyễn Văn Thạc, học sinh từng đoạt giải giỏi văn nhất miền Bắc và cũng là người lính chết trong mùa hè đỏ lửa tại Quảng Trị 1972. Theo các báo tại Việt Nam, anh Thạc chết trong một trận đánh ác liệt bên Thành cổ…