Khi đọc Mồ hôi của đá của Nhật Tiến trong mạch đối chiếu với Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh hay các tác phẩm của Phan Nhật Nam, tôi dần nhận ra, chiến tranh trong văn chương đã định hình cách một thành phố mang nỗi đau của tôi như thế nào. Hà Nội và Sài Gòn không chỉ khác nhau về lịch sử còn khác nhau sâu sắc ở cách hai thành phố này mang chiến tranh vào đời sống thường nhật. Mồ hôi của đá nằm đúng ở khoảng lưng chừng ấy, không thuộc về tiếng súng cũng không thuộc về hồi ức lãng mạn, nó là những dòng văn bản về một đời sống bị ép phải tồn tại lâu dài trong sức nặng lịch sử.
Hà Nội trong văn chương thường mang dáng dấp của một thành phố có nhiều điều phải ghi nhớ. Ghi nhớ bằng đạo lý, bằng lịch sử, bằng những câu hỏi nặng nề về ý nghĩa của hy sinh. Vì thế, nỗi buồn trong văn chương Hà Nội thường mang tinh thần suy xét, day dứt, có nhiều triết lý. Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh dù đã phá vỡ trật tự ấy từ bên trong nhưng ngay cả khi phá vỡ, nó vẫn mang dấu ấn về một Hà Nội nặng suy tưởng.
Ngược lại, Mồ hôi của đá không đặt chiến tranh vào ký ức hay đạo lý. Nó đặt chiến tranh vào điều kiện sống đơn thuần. Không cần giải thích, không cần lý tưởng hóa, không cần biện minh. Sài Gòn trong văn chương của Nhật Tiến không phải là thành phố của chiến thắng hay thất bại, nó là thành phố của những con người phải sống tiếp trong một hoàn cảnh không do tôi chọn. Nhật Tiến không để con người đối thoại trực tiếp với lịch sử như Bảo Ninh, cũng không để họ đối diện cái chết như Phan Nhật Nam. Ông để họ đối diện với sự bào mòn. Một sự bào mòn không có khoảnh khắc bùng nổ nhưng kéo dài đến mức ngay cả đá cũng phải “đổ mồ hôi”.

Nếu Hà Nội mang chiến tranh như một ký ức cần suy niệm thì Sài Gòn mang chiến tranh như một áp lực đời sống kéo dài. Nếu nhìn từ văn chương, ta có thể thấy: Hà Nội hình thành một tính cách chuẩn mực, kiêu hãnh, nặng đạo lý. Sài Gòn hình thành một tính cách linh hoạt, đời thường, thực tế và chịu đựng. Mồ hôi của đá không đứng về phía thành phố nào nhưng nó giúp giải thích vì sao, Hà Nội dễ mang dáng vẻ khắt khe, nghiêm cẩn, đôi khi khô cứng. Sài Gòn dễ mang vẻ rộng lượng nhưng lại chứa đựng những mệt mỏi âm thầm không được gọi tên.
Có lúc tôi tự hỏi, sự phân chia “Hà Nội gốc – Hà Nội ngụ cư” mà tôi vẫn gặp, liệu có đơn thuần là niềm kiêu hãnh hay không? Hay sâu hơn, đó là một phản xạ sinh tồn của những con người đã từng mất quá nhiều. Chiến tranh không chỉ lấy đi sinh mạng, nó còn làm đứt gãy trật tự xã hội, làm tan rã địa vị, tài sản và cả những chuẩn mực sống từng được coi là bền vững. Khi mọi thứ vật chất không còn nắm được trong tay, có lẽ người ta buộc phải níu giữ những gì còn sót lại, là một ký ức mơ hồ, là viện dẫn tới “gốc gác”như một bằng chứng rằng tôi đã từng thuộc về một thế giới có trật tự, có phẩm giá.
Trong cách người Hà Nội phân biệt gốc gác, tôi thấy một nỗi sợ mất thêm lần nữa. Sợ bị hòa tan, sợ bị xóa nhòa, sợ rằng nếu không gọi tên “văn minh Hà Nội” như một đặc quyền thì thứ văn minh ấy sẽ vĩnh viễn biến mất. Có lẽ vì thế mà nhiều người Hà Nội vô thức biến ký ức thành hàng rào, biến quá khứ thành thước đo hiện tại. Nhưng ký ức nếu không được đặt xuống đúng cách thì rất dễ trở thành gánh nặng. Và chính ở điểm này, nỗi đau chưa được chữa lành của chiến tranh có thể tiếp tục sinh ra những tổn thương mới trong đời sống thường nhật. Khi không còn phải chứng minh tôi từng là ai, có lẽ con người mới đủ nhẹ nhõm để đối xử dịu dàng hơn với hiện tại.
Nếu Hà Nội chọn cách cố chấp giữ lấy những gì từng có thì Sài Gòn chọn cách sống với những gì còn lại. Không phải vì Sài Gòn ít đau hơn, chỉ là thành phố này đã học được cách mang nỗi đau đi tiếp. Nó là kết quả của một đời sống buộc phải mở ra để tồn tại. Khi một thành phố liên tục đón nhận những làn sóng người mới, những thân phận trôi dạt thì cách duy nhất để sống chung là không truy xét gốc gác mà chọn cách bao dung để cùng nhau tồn tại.
Có phải như thế nên văn chương miền Nam khi viết về chiến tranh hiếm khi chọn giọng kiêu hãnh không? Những nhà văn miền Nam không viết để giữ lấy một tư thế lịch sử. Họ viết như những con người đang cố sống tiếp giữa đổ nát. Ở đó, sự nhân văn không đến từ việc khẳng định tôi đúng, chỉ từ việc không tước đi quyền sống tiếp của người khác mà thôi. Cũng giống như Sài Gòn, những trang viết ấy không đòi hỏi người đọc đứng về phía nào. Chúng chỉ lặng lẽ đặt con người vào trung tâm của một đời sống phải tiếp diễn dù không còn nguyên vẹn.
Khi tôi đặt Mồ hôi của đá vào đối thoại với Hà Nội – Sài Gòn, tôi không nhằm so sánh hơn thua, chỉ để tôi có thể nhận ra rằng, chiến tranh đã chia cắt không chỉ lãnh thổ còn ở cách con người học cách chịu đựng và ghi nhớ. Nhật Tiến không viết để giải thích lịch sử, ông viết để giữ lại con người trong một thành phố đã quen với việc sống chung cùng mỏi mệt. Và chính sự không phán xét ấy khiến Mồ hôi của đá có khả năng hàn gắn. Nó không buộc ai phải nhận lỗi cũng không yêu cầu ai phải biện minh. Nó để người đọc tự lựa chọn cách đi tiếp.
Tôi đã khóc khi khép lại những dòng cuối của Mồ hôi của đá. Khóc cho những người dân Hà Nội, người dân Sài Gòn, những người đã ra đi, những người ở lại, những người sống sót mà không còn nguyên vẹn. Và rồi, tôi nhận ra tôi cũng đang khóc cho chính tôi, cho những năm tháng đã cố đi tìm một chân lý, một lẽ phải, một câu trả lời rạch ròi cho lịch sử và đời sống.
Nhưng càng đi xa, càng đọc nhiều, tôi càng hiểu ra rằng không có chân lý nào có thể đứng ngoài nỗi đau của con người. Không có lẽ phải nào đủ trong trẻo để biện minh cho những mất mát đã xảy ra. Chỉ có những phận người mang thương tích theo những cách khác nhau, cố gắng sống tiếp giữa một thế giới không còn nguyên vẹn. Và có lẽ, điều tử tế nhất mà văn chương có thể làm cũng như điều tử tế nhất mà tôi có thể làm, chỉ là dừng lại ở đó, không phán xét, không phân xử, chỉ lặng lẽ cúi đầu trước nỗi đau, để nó được là nỗi đau của con người trước khi là bất cứ điều gì khác…
Nguồn: Facebook Hoa Quỳnh Nguyễn












