Những trang viết chỉ lặng lẽ đặt con người vào trung tâm của mất mát

Minh họa: Patrick William/Unsplash

Trước khi đến với Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh hay các tác phẩm của Phan Nhật Nam, tôi từng đọc không ít sách chiến tranh, những cuốn sách đã đồng hành cùng tuổi thơ và những năm tháng còn ngồi trên ghế nhà trường như Tuổi thơ dữ dội, Dấu chân người lính… Các tác phẩm ấy đã dạy tôi biết thế nào là hy sinh, thế nào là lòng yêu nước, thế nào là ra đi không tiếc thân tôi vì một lý tưởng lớn. Thế nhưng càng lớn lên, càng sống lâu hơn với đời thường nhiều mệt mỏi, tổn thương và những mất mát không được gọi tên, tôi bắt đầu thấy tôi cần một cách đọc khác.

Có lẽ vì thế mà tôi tìm đến các tác phẩm của Phan Nhật Nam như Dấu binh lửa, Mùa hè đỏ lửa, Dựa lưng nỗi chết hay Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Tôi không đọc để tìm một “sự thật khác” của lịch sử. Tôi đọc vì ở đó, chiến tranh không còn là câu chuyện của chiến công. Nó là câu chuyện của những con người phải sống tiếp sau chiến tranh hoặc không thể sống tiếp một cách bình thường như trước.

Nỗi buồn chiến tranh khiến tôi choáng váng ngay từ lần đọc đầu tiên. Không phải vì những trận đánh mà vì cảm giác tan vỡ kéo dài. Nó kéo lê vào kí ức, vào giấc ngủ, vào cách một con người yêu, nhớ, tồn tại. Không có trật tự rõ ràng, không có tuyến tính anh hùng và phản diện. Chỉ có một dòng ký ức đứt gãy, rời rạc, nơi nỗi buồn cứ tồn tại như một trạng thái trống rỗng, tựa như hòn đá trơ ra qua những mùa nước lũ. Có những mất mát không bao giờ được xếp gọn dù lịch sử đã sang trang.

Nếu Nỗi buồn chiến tranh là nỗi buồn kéo dài sau chiến tranh thì văn chương Phan Nhật Nam lại đưa tôi vào ngay giữa cuộc hành trình của người lính một cách khô khốc. Mùa hè đỏ lửa không kể chiến tranh như một bản anh hùng ca, chỉ như một chuỗi ngày dằng dặc của cái chết cận kề, của sự kiệt sức, của cảm giác sống sót mang theo những mặc cảm. Dựa lưng nỗi chết không làm cho cái chết trở nên bi tráng, chỉ đặt con người ở sát ranh giới nhất của bản năng, nơi sự sống được níu giữ bằng những điều rất tầm thường.

Có một đoạn trong Dấu binh lửa mà tôi luôn nhớ mãi: “Những người đi tìm cái chết để biện giải cho đời sống. Tôi tham dự vào cuộc hành trình khốn nạn này. Giải thích này làm tôi yên ổn. Cũng trong những tháng năm đằng đẵng gian khổ ấy, tôi khám phá ra được hạnh phúc của đời người. Hạnh phúc là bếp lửa thật nóng, bữa cơm có canh, một mái lều tranh không dột, căng được chiếc võng, uống ly cà phê, đọc tờ báo… Hạnh phúc nồng nhiệt khi trở về nhà trong đêm khuya gõ cửa, vợ ra đón với con nhỏ ba tháng… Đấy, đời lính đã dạy cho tôi biết được giá trị của những sung sướng tầm thường đó.”

Khi đọc đến đây, tôi chợt hiểu điều khiến tôi gắn bó với Phan Nhật Nam. Ông không đi tìm cái chết để trở thành huyền thoại. Ông đi xuyên qua cái chết để nhận ra giá trị của đời sống. Ở ông, hạnh phúc không phải điều được ghi công, chỉ là điều có thể nắm được trong tay, bình dị đời thường nhưng bền chặt: Một bữa cơm, một ly cà phê, một cánh cửa mở ra trong đêm. Trong một đời sống mà cái chết luôn cận kề, có lẽ chỉ những sung sướng tầm thường ấy mới đủ thật để bám víu vào mà sống tiếp.

Phan Nhật Nam không dồn tôi vào một cơn xúc động vỡ vụn, không ép tôi phải đau nỗi đau cùng ông. Điều khiến tôi tin ông không phải là chiến tranh được miêu tả khốc liệt đến đâu, nó là cách ông gọi đúng tên hành trình của tôi: “Khốn nạn”. Không bi tráng hóa, không tự đóng vai nạn nhân cao cả, không dùng cái chết để tô đậm ý nghĩa. Ông chỉ thừa nhận rằng người ta đi tìm cái chết, đôi khi không phải vì lý tưởng cao đẹp, là để con người còn có thể tiếp tục sống mà không gục ngã.

Nếu Bảo Ninh cho tôi thấy chiến tranh có thể theo con người rất lâu, dai dẳng đến mức nó tiếp tục diễn ra trong ký ức, trong những giấc mơ mộng mị, trong những khoảng trống không thể lấp đầy thì Phan Nhật Nam cho tôi thấy một cách khác để đi qua nó. Là không xóa bỏ, không lý giải cho đẹp, chỉ giữ lại những gì còn nắm được trong tay để tiếp tục sống. Tôi thích Phan Nhật Nam ở chỗ, những điều ông viết không yêu cầu tôi phải chọn đứng về phía nào. Ông không cần tôi thương hại cũng không cần tôi phẫn nộ. Ông viết như một cách giữ lại. Giữ lại con người, giữ lại những dấu vết mong manh trước khi tất cả biến mất như chưa từng tồn tại.

Chiến tranh, suy cho cùng không chỉ nằm trong sách. Nó nằm trong cách con người phản ứng với mất mát, mệt mỏi, với đời sống thường nhật. Những người lính trong các trang viết này đâu chỉ cần cài lên ngực những tấm huân chương để vẻ vang. Họ sẽ lùi về trong dĩ vãng để khép lại một hành trình nhiều mất mát và đối diện với đời sống thường nhật đầy lo toan. Ở đó, hạnh phúc không phải điều được ghi nhớ, nó là điều tầm thường và chính sự tầm thường ấy mới là điều khó giữ nhất sau chiến tranh.

Có lẽ cũng từ đây trong hành trình đọc của tôi, tôi thường dừng lại lâu hơn ở một số giọng văn miền Nam trước 1975. Không phải vì họ thuộc về một phía nào của lịch sử. Là vì trong cách kể của họ, tôi ít thấy nhu cầu phải lý tưởng hóa một điều gì cả. Nhã Ca trong Giải khăn sô cho Huế, Dương Nghiễm Mậu trong Đôi mắt trên trời hay đâu đó trong văn chương Võ Phiến, Mai Thảo, chiến tranh hiện diện như một cái bóng dài phủ lên đời sống mất mát và lạc lõng của con người.

Tôi không đọc những cuốn sách này để phủ định quá khứ, càng không để tranh luận lịch sử. Tôi đọc vì tôi muốn hiểu về ý nghĩa tầm thường của đời người hơn, hiểu vì sao có những nỗi buồn kéo dài, vì sao có những im lặng không thể gọi tên và vì sao sau tất cả, người ta vẫn cần một bếp lửa thật nóng để tin rằng tôi còn sống. Sống không phải lúc nào cũng cần những ý nghĩa lớn. Đôi khi, chỉ cần đủ tỉnh táo để giữ giọng tôi thấp xuống, đủ tử tế để không làm đau người bên cạnh và đủ biết ơn với những hạnh phúc nhỏ nhoi còn đang hiện hữu.

Có lẽ, đọc chiến tranh ở một thời điểm khác của đời sống cũng giống như quay về một thành phố cũ sau nhiều năm xa cách. Mọi thứ vẫn ở đó nhưng cách tôi nhìn vào nó đã khác. Rồi trong chính sự khác biệt ấy khiến tôi biết trân trọng hơn những trang viết chỉ lặng lẽ đặt con người vào trung tâm của mất mát. Với tôi, đó là một cách đọc và cũng là một cách sống nhân hậu hơn với những gì đã qua và không thể qua trong đời.

Nguồn: Facebook Hoa Quỳnh Nguyễn

Chuyên đề bookmark

Tản mạn

Cùng Tác Giả: Hoa Quỳnh Nguyễn

Mồ hôi của đá…

Hoa Quỳnh Nguyễn (23/04/2026)

Khi đọc Mồ hôi của đá của Nhật Tiến trong mạch đối chiếu với Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh hay các tác phẩm của Phan Nhật Nam, tôi dần nhận ra, chiến tranh trong văn chương đã định hình cách một thành phố mang nỗi đau của tôi…

“Dạ, xin lỗi cho em qua…”

Hoa Quỳnh Nguyễn (15/03/2026)

Tôi là người Hà Nội và rõ ràng tôi có niềm kiêu hãnh của mình, luôn là thế. Sự kiêu hãnh ấy khiến tôi vừa có một nửa kiêu kì, vừa có một nửa tò mò. Tôi nhìn thế giới bằng ánh mắt của người tin rằng mình hiểu nhưng…

Tôi và Hà Nội và Tokyo

Hoa Quỳnh Nguyễn (01/01/2026)

Mỗi lần trở về Hà Nội, tôi đều có cảm giác mình đang mắc kẹt giữa hai mép thời gian, không hẳn là chia tay cũng không đủ can đảm để ở lại. Tôi hạ cánh xuống Nội Bài vào một buổi sáng mưa phùn, giọng chị Bống vang lên…

Chuyên Đề: Tản mạn

Mồ hôi của đá…

Hoa Quỳnh Nguyễn (23/04/2026)

Khi đọc Mồ hôi của đá của Nhật Tiến trong mạch đối chiếu với Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh hay các tác phẩm của Phan Nhật Nam, tôi dần nhận ra, chiến tranh trong văn chương đã định hình cách một thành phố mang nỗi đau của tôi…

“Dạ, xin lỗi cho em qua…”

Hoa Quỳnh Nguyễn (15/03/2026)

Tôi là người Hà Nội và rõ ràng tôi có niềm kiêu hãnh của mình, luôn là thế. Sự kiêu hãnh ấy khiến tôi vừa có một nửa kiêu kì, vừa có một nửa tò mò. Tôi nhìn thế giới bằng ánh mắt của người tin rằng mình hiểu nhưng…

Tôi và Hà Nội và Tokyo

Hoa Quỳnh Nguyễn (01/01/2026)

Mỗi lần trở về Hà Nội, tôi đều có cảm giác mình đang mắc kẹt giữa hai mép thời gian, không hẳn là chia tay cũng không đủ can đảm để ở lại. Tôi hạ cánh xuống Nội Bài vào một buổi sáng mưa phùn, giọng chị Bống vang lên…

You Needed Me – Vì anh cần có em

Tidoo Nguyễn (27/11/2025)

Ca khúc “You needed me” giống như đốm lửa hồng nhen nhóm giữa trời đông lạnh giá, truyền hơi ấm đến trái tim của người từng trải qua tổn thương tinh thần trước sự biến động trong đời. Câu chuyện ẩn trong ca khúc có ý nghĩa tích cực vì…

Mùa ‘đông’ Sài Gòn nhớ đến ‘đông’ quê

Tidoo Nguyễn (18/11/2025)

Miền Nam chỉ có hai mùa nắng mưa nhưng cũng có một khoảng thời gian ngắn ngủi mà người miền Nam gọi là hơi hướng của mùa đông từ giữa Tháng Mười Một cho đến Tháng Mười Hai hàng năm. Thời tiết lúc này mát hơn so với các tháng…

Bài Ngẫu Nhiên

Thế giới phim nhạc rock

Barry Huynh (08/09/2020)

Đối với dân nghiện nhạc rock thì phần lớn những gì liên quan nhạc rock đều có một giá trị đặc biệt, từ chiếc cùi vé sau một buổi live show, một cái T-shirt in hình ban nhạc mình yêu thích đến những thứ quí giá hơn như chữ ký…

Từ “history” đến “HERstory” và hơn thế nữa…

Nguyễn Ngọc Chính (10/11/2020)

Mùa bầu cử Tổng thống ở Hoa Kỳ năm nay thấy xuất hiện cách chơi chữ thú vị khi người ta nói “Making HERstory” để ám chỉ đến bà Kamala Harris, ứng cử viên Phó tổng thống chung liên danh với ông Joe Biden… Tiếng Anh “history” có nghĩa là…

Yêu – từ âm nhạc đến điện ảnh

TheNewViet (30/08/2020)

Không ai có thể thống kê chính xác có bao nhiêu phim tình và bao nhiêu tình khúc nhưng điều ấy cũng chẳng quan trọng. Cứ thưởng thức, cứ chìm đắm, cứ bồng bềnh với những chuyện tình được kể trong phim hoặc được than thở “tụng niệm” bằng nhạc…

‘Gánh lúa’ gợi lên niềm thương nỗi nhớ

Tidoo Nguyễn (27/09/2025)

Việt Nam có nền văn minh lúa nước cách nay hàng ngàn năm. Vì vậy những âm thanh, hình ảnh, hoạt động của con người xuất phát từ cánh đồng lúa ở đồng bằng không chỉ là nguồn cảm hứng sáng tác vô tận cho giới nghệ sĩ mà còn…

Sai sót trong “Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt-Hán”

Hoàng Tuấn Công (02/11/2020)

Nguyễn Văn Khang (NVK) là tác giả và đồng tác giả của 19 cuốn từ điển tiếng Việt. Về từ điển chính tả, NVK có “Từ điển chính tả tiếng Việt phổ thông” (NXB Khoa học Xã hội – 2003) và “Từ điển chính tả tiếng Việt” (GS. TS. Nguyễn…

Đi “nhà băng”, ăn “xúc-xích”

Nguyễn Ngọc Chính (15/08/2020)

Chữ Quốc ngữ, vốn được tạo ra bởi một số nhà truyền giáo Tây phương, đặc biệt là linh mục Alexandre de Rhodes (tác giả cuốn Từ điển Việt-Bồ-La năm 1651), với mục đích dùng ký tự Latin làm nền tảng cho tiếng Việt. “Latin hóa” chữ Việt ngày càng…