Sự thăng trầm ‘lâm ly’ của từ điển

Getty Images

Ngày xưa, mỗi gia đình thuộc tầng lớp trung lưu đều có một cây piano và một cuốn từ điển. Mục đích của cây piano là để mọi người có thể nghe nhạc trước khi máy hát đĩa trở nên phổ biến. Mục đích củat ừ điển là để giải quyết những tranh chấp trong gia đình về cách đánh vần các từ như “camaraderie” và “sesquipedalian”, hoặc về cách phát âm đúng của từ “puttee”…

Thời huy hoàng của từ điển

Đó là một thế giới cách đây không lâu. Cuối những năm 1980, cuốn Merriam-Webster’s Collegiate Dictionary nằm trong danh sách bán chạy nhất của tờ Times trong 155 tuần liên tiếp. 57 triệu bản đã được bán ra, chỉ đứng sau doanh số Kinh Thánh ở Mỹ (cuốn từ điển in bán chạy nhất thế giới là Từ điển Tân Hoa ngữ – Xinhua Dictionary – với hơn 500 triệu bản được tiêu thụ kể từ khi ra mắt năm 1953).

Ngành kinh doanh từ điển từng rất phát đạt. Sau đó, internet ra đời và cùng với nó là những câu trả lời sẵn có cho tất cả các câu hỏi về từ ngữ. Như phần còn lại của thế giới analog, những cuốn từ điển truyền thống phải thích nghi hoặc biến mất. Trong cuốn Unabridged: The Thrill of (and Threat to) the Modern Dictionary, Stefan Fatsis đã thuật lại câu chuyện về cái chết của từ điển.

Để viết cuốn “Unabridged”, nhà báo Fatsis đã vào làm việc tại văn phòng của Merriam-Webster, nằm ở Springfield, Massachusetts. Ở đó, ông đóng vai một nhà từ điển học nghiệp dư, tìm kiếm những từ mới để đưa vào từ điển và thử sức với việc định nghĩa. Ông nói về các cuộc chiến ngôn ngữ đương đại, cho thấy nhiều từ gây tranh cãi nhất – “woke”, “safe space”, “microaggression”, “anti-racism” – lại có lịch sử lâu đời hơn chúng ta tưởng.

Ông cũng giới thiệu những thuật ngữ có thể mới đối với nhiều độc giả: “sportocrat”, “on fleek”, “vajazzle”, và từ tiếng Đức Backpfeifengesicht, được định nghĩa là “một khuôn mặt đáng bị tát hoặc đấm”… Fatsis kết luận rằng không chỉ từ điển có thể đang đi đến hồi kết như một doanh nghiệp thương mại mà cả ngành chuyên môn từ điển học cũng dần biến mất. Stefan Fatsis trích một ước tính rằng, 25 năm trước, có 200 nhà từ điển học toàn thời gian ở Mỹ. Ngày nay, con số đó “có lẽ chỉ còn khoảng 30”.

Jenny Kane/AP

Hầu hết từ điển trực tuyến miễn phí – chẳng hạn web merriam-webster.com ban đầu dựa trên ấn bản thứ 11 của bộ Merriam-Webster’s Collegiate – bây giờ không chú trọng nhiều đến từ điển học. Chúng chủ yếu dành cho những người thích chơi chữ. Định nghĩa và cách viết đúng chính tả không còn là điểm thu hút chính. Các trang web từ điển thường có mục “từ đáng chú ý nhất trong ngày”, trò chơi ô chữ, danh sách biểu tượng cảm xúc, tiếng lóng thịnh hành, mẹo sử dụng từ ngữ (chẳng hạn ‘nip it in the butt’ hay ‘nip it in the bud’?), dịch thuật…

Trong khi đó, các nhà thơ và giới giáo sư vẫn bị cuốn hút bởi những từ nguyên học phức tạp của từ điển Oxford English Dictionary (O.E.D.), được xây dựng từ cơ sở dữ liệu có từ năm 1857. Người ta kể rằng thi hào người Mỹ gốc Anh W. H. Auden từng làm hỏng cuốn O.E.D. đầu tiên của mình vì sử dụng nó quá thường xuyên.

Merriam-Webster hiện thuộc sở hữu Encyclopædia Britannica, một thương hiệu khổng lồ có mặt từ thời in ấn. Ấn bản gốc của nó được xuất bản ở Scotland vào năm 1768, Encyclopædia Britannica hiện cũng phải vật lộn để cạnh tranh trong lĩnh vực trực tuyến vốn bị chi phối bởi Wikipedia. Britannica đã mất thị phần từ năm 1993, khi Microsoft phát hành bách khoa toàn thư kỹ thuật số Encarta dưới dạng DVD và sau đó là online. Britannica đã ngừng in các ấn bản giấy vào năm 2012.

Từ Merriam-Webster đến Oxford English Dictionary

Cuốn Dictionary of the English Language của Samuel Johnson, được xuất bản ở London năm 1755, đã khai mở vai trò cho từ điển: thiết lập những gì sau này được gọi là tiếng Anh chuẩn (Standard English). Bản thân Samuel Johnson nhận thức rằng ngôn ngữ là một thực thể sống, luôn thay đổi. Cuốn từ điển của ông thành công vang dội, trở thành tiêu chuẩn của ngôn ngữ học và từ điển học mãi đến thế kỷ 19. Tuy nhiên, sau đó, ở Anh bắt đầu xuất hiện Oxford English Dictionary. Ở Mỹ, có American Dictionary of the English Language của Noah Webster, ra mắt năm 1828.

Với tham vọng vượt qua những gì Samuel Johnson làm được, Noah Webster soạn bộ từ điển không theo phương ngữ British English mà phải là ngôn ngữ mang đậm bản sắc Mỹ (identifiably American language). Từ điển của Johnson có khoảng 42.000 từ; từ điển của Webster có 70.000 từ.

Minh họa: Joshua Hoehne/Unsplash

Noah Webster đưa vào các từ của Tân Thế giới (New World), chẳng hạn “skunk,” “boost,” và “roundabout”; các từ có nguồn gốc từ thổ dân da đỏ, chẳng hạn “canoe” và “moose”; các từ có nguồn gốc từ tiếng Mễ Tây Ban Nha (Mexican Spanish) như “coyote”.  Quan trọng nhất, Noah Webster đã Mỹ hóa chính tả (Americanized spelling), một dự án vốn hình thành trong công trình trước đó của ông. Đó là cuốn dạy đánh vần dành cho học sinh có tên A Grammatical Institute of the English Language xuất bản năm 1783. Nhờ Webster mà người Mỹ viết “defense” và “center”, thay vì “defence” và “centre,” “public” chứ không phải “publick”.  

Cuốn New International Dictionary của Webster, ấn bản thứ hai, được quảng bá là “không rút gọn” (“unabridged”) bắt đầu ra mắt năm 1934. Webster II là bộ từ điển đồ sộ, với 600.000 mục từ, 35.000 tên địa lý, và, trong phần phụ lục, có 13.000 tên tiểu sử. Nó thực sự là cuốn bách khoa toàn thư hơn là từ điển. Nó có hình minh họa toàn trang về “Tiền xu của thế giới,” “Các loài chim phổ biến ở Mỹ,” “Cây độc,” v.v. Một số ấn bản còn có phần “Lịch sử tham khảo thế giới” dài 400 trang. Có 20 mục định nghĩa (definition entries) bắt đầu bằng “banana.”

Việc soạn Webster II cần đến sự góp sức của 207 cố vấn biên tập (“consulting editors”) trong đó có hiệu trưởng Đại học Johns Hopkins và hiệu trưởng trường Luật Harvard. Mục tiêu là tạo ra cuốn quy tắc chuẩn nhất có thể cho người sử dụng tiếng Anh. Do vậy, Webster II đã chỉ ra những từ cần được coi là không chuẩn (nonstandard).

Nhóm cố vấn biên tập khuyên: “Các thuật ngữ tiếng lóng và những nghĩa lóng của các từ tiêu chuẩn chỉ được đưa vào khi có bằng chứng cho thấy chúng đã được sử dụng trong một thời gian đủ dài, và khi chúng từng xuất hiện trong các tác phẩm in ấn có khả năng còn tiếp tục được đọc trong tương lai.” Nói cách khác, tiếng lóng được ghi nhận chừng nào người ta còn sử dụng nó. Dù vậy, nó không nên được coi là chuẩn. Với Webster II, người ta muốn hướng dẫn người sử dụng như thế nào là nói và viết tiếng Anh cho đúng đắn và tử tế.

Tuy nhiên, đến cuốn Webster’s Third New International Dictionary, xuất bản năm 1961, thì quan niệm về chuẩn mực bắt đầu thay đổi. Stefan Fatsis cho biết Webster III “đã thay đổi ngành từ điển học”. Với chính sách mở, Webster III mang tính mô tả nhiều hơn. Các biên tập viên không từ bỏ khái niệm tiếng Anh chuẩn, mà họ định nghĩa là tiếng Anh “được sử dụng rộng rãi trong lời nói và văn viết chính thức và không chính thức của những người có học thức”, và họ chỉ ra khi nào một từ được coi là không chuẩn. Dù vậy họ đã loại bỏ nhãn “thông tục” (“colloquial”) và giảm số lượng từ được dán nhãn là tiếng lóng (slang). Tinh thần của Webster III là không phán xét.

Phản ứng của nhiều người là lên án Webster III. Những người tấn công nhiều nhất là giớ văn sĩ chuyên nghiệp. Những bài công kích của họ xuất hiện trên các tờ báo hàng đầu nước Mỹ. Không nhóm nào có thể có lợi ích lớn hơn trong việc duy trì tiếng Anh chuẩn. Sự chuẩn mực về ngôn ngữ là nền tảng sinh kế của họ. Nếu bất cứ điều gì cũng được chấp nhận trong lĩnh vực sử dụng ngôn ngữ thì họ cũng sẽ mất đi vị thế mình.

The New York Times là một trong những tờ báo lớn “đánh” tơi tả Webster III, cho rằng quyển từ điển này quá “dễ dãi” và “thiếu trang trọng”. Tờ The Atlantic gọi Webster III là “một bê bối và một thảm họa”. Webster III bị cây bút Dwight Macdonald chế giễu hết lời; và khoảng 40 năm sau, nó tiếp tục bị David Foster Wallace “nện” tương tự trên tạp chí Harper’s. Năm 1964, The New York Times đăng một bài báo với tiêu đề “Từ điển Webster II lỗi thời vẫn bán chạy; các nhà giáo dục thích từ điển cũ hơn từ điển mới”.

Một trong những điều khiến Webster III bị đánh giá là “quá dễ dãi” và “thiếu trang trọng” là họ đưa từ “ain’t” vào. Từ này thật ra chỉ là dạng viết tắt của “is not”, “are not” hoặc “am not”. Tuy nhiên, vào năm 1961, việc sử dụng “ain’t” ở Mỹ là một dấu hiệu rất rõ ràng về tầng lớp xã hội, chỉ dân “bình dân ít học” mới dùng “ain’t”. Cuộc tranh cãi liên quan “ain’t” đã phơi bày những vấn đề cốt lõi trong từ điển học: việc sử dụng ngôn ngữ như một chỉ dấu về địa vị. Tóm lại, loạt ồn ào quanh Webster III là cuộc chiến văn hóa, mà các cuộc chiến văn hóa thực chất là cuộc chiến giai cấp. Nhóm nào đang ở vị trí cao hơn hay thấp hơn, trên hay dưới, trong hay ngoài? Ai đang nắm quyền quyết định cho ai?

Trong một bài phê bình viết cho tờ The American Scholar, Jacques Barzun, nhà sử học của Đại học Columbia, gọi Webster III là “tập sách chính trị dài nhất từng được biên soạn”. Barzun phàn nàn rằng, không phải “bất cứ điều gì ‘người dân’ nói ra cũng đều phải được coi là một ‘sự thật ngôn ngữ’ (‘linguistic fact’) cần được ghi nhận, được trân trọng và được ưu tiên hơn mọi lý lẽ hay truyền thống”. Ông nói đây không phải là một sự nới lỏng văn hóa mà ông có thể chấp nhận.

Sự giãy chết trên những trang giấy in

Ấn bản in cuối cùng của Webster III có 2.783 trang và 465.000 mục từ. Tuy nhiên, nó chỉ chứa chưa đến một nửa số từ trong từ vựng tiếng Anh (English lexicon). Theo một nghiên cứu về sách thư viện số hóa, vào năm 1950, “English lexicon” có khoảng 600.000 từ; và tính đến năm 2000, nó có hơn một triệu từ.

Minh họa: Houcine Ncib/Unsplash

Nghiên cứu tương tự kết luận rằng 52% các từ tiếng Anh trong bộ sách in Webster III là những từ nằm trong nhóm “vật chất tối” (“lexical dark matter”) – một ẩn dụ mượn từ khái niệm vật lý thiên văn, ám chỉ những từ tồn tại và được sử dụng nhưng không xuất hiện trong bất kỳ từ điển hay tài liệu tham khảo tiêu chuẩn nào. Nói cách khác, đó là những từ xuất hiện trong sách in (và trong đời sống ngôn ngữ ngoài xã hội) nhưng không được ghi nhận, không được định nghĩa chính thức, dù chiếm một tỷ lệ rất lớn của ngôn ngữ thực tế.

Với Oxford English Dictionary (O.E.D.), ấn bản in thứ hai và cũng là ấn bản cuối cùng của họ ra mắt năm 1989, gồm 20 tập, nặng hơn 62 kg và có gần 300.000 mục từ. Phiên bản trực tuyến của O.E.D. có 850.000 mục từ. O.E.D. hiện vẫn cập nhật thường xuyên với tốc độ 15.000 từ mỗi năm.

Một trong những lý do cho sự bùng nổ số lượng từ là hiện tượng mở rộng khái niệm về những gì được coi là một từ. Chẳng hạn chữ “K”. “K” có thể có nghĩa là một kilômét, 1.000 đơn vị tiền tệ, 1.024 byte dung lượng lưu trữ máy tính, một cú đánh trượt trong bóng chày, một độ trên thang nhiệt độ Kelvin, quốc gia Hàn Quốc (như trong “K-pop”), nguyên tố hóa học kali, một thước đo độ tinh khiết của vàng (karat), thuốc ketamine, trường mẫu giáo (như trong “K-12”), quân vua trong một nước cờ (như trong “Kd2”), một từ ngữ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi, hình dạng của một mô hình kinh tế (ám chỉ nhánh đi lên và nhánh đi xuống trong một nền kinh tế)…

Vậy “K” có phải là một từ? Từ điển O.E.D. nói rằng nó là một từ và đưa ra năm định nghĩa cho nó. “K” cũng được xem là một từ trong từ điển trực tuyến Merriam-Webster, với tám định nghĩa, và trong từ điển Cambridge, nó có bốn định nghĩa.

Ian Nicholson/PA

Ba từ điển trực tuyến Cambridge, Merriam-Webster và O.E.D. là những từ điển tiếng Anh trực tuyến phổ biến nhất hiện nay. Cambridge cho biết họ có hơn 2,3 tỷ lượt xem mỗi năm; Merriam-Webster có khoảng một tỷ lượt xem. Oxford cho biết trung bình, mỗi giây mỗi ngày, có ai đó ở đâu đó trên thế giới đang tra cứu một từ trên oed.com.

Bất luận thế nào, không thể phủ nhận thực tế rằng từ điển in đã thật sự chết. Internet đã đào huyệt cho từ điển in. Cái chết của từ điển in cho thấy ngôn ngữ không còn có thể bị đóng khung, không còn được định đoạt bởi những nhà ngôn ngữ học, với sự đắn đo và thận trọng khi xem xét nó “đủ tư cách” và “xứng đáng” để được đưa lên những trang từ điển in hay không. Ngày nay, sự tồn tại của từ vựng không phải vì nó đã được “ghi nhận”, “được in trong từ điển” như một xác tín chuẩn mực, mà vì nó được dùng đủ nhiều, đủ nhanh, đủ ồn ào, trong thế giới mạng.

***

Nguồn tham khảo: “Is the Dictionary Done For?”/The New Yorker

Cùng Tác Giả: TheNewViet

Nền cộng hòa La Mã tan rã vì bàn tay của chế độ gia trưởng

TheNewViet (27/11/2025)

Câu chuyện về sự cáo chung của nền cộng hòa La Mã từ lâu được kể lại với những yếu tố quen thuộc: bộ máy nhà nước rối loạn, chủ nghĩa vị kỷ trong chính trị, và sự sụp đổ của các thiết chế hiến định. Những nhân vật như…

Tiền nhiều để làm gì?

TheNewViet (14/11/2025)

Sự “vĩ đại” của một tài sản đôi khi rất nhỏ bé nếu ông chủ tầm thường của nó không biết thẹn khi nghe người ta hỏi “làm tỷ phú để chi vậy?”

Bài Ngẫu Nhiên

“Nghệ thuật” khen con

Phạm Nguyễn Thiện Nhân (28/08/2020)

Những lời khen hằng ngày có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của con cái… Khen ngợi con có vẻ là một việc làm đúng đắn. Các bậc phụ huynh thường xuyên được nhắc nhở tầm quan trọng của việc trao thưởng và khen ngợi cho những…

Bức tranh nghề báo

Trung Bảo (10/08/2020)

✍️✍️✍️ Đêm qua tôi xem bộ phim True Story, bộ phim về nghề báo dựa trên câu chuyện có thật. Hai nhân vật chính, một cựu phóng viên của The New York Times và một kẻ sát nhân đã ra tay giết cả gia đình mình. Anh phóng viên là…

Kéo mọi người lại vào mâm cơm gia đình

Minh Đăng (29/09/2020)

Bạn thử “đếm” lại xem mỗi tuần hoặc mỗi tháng có bao nhiêu bữa ăn mà mọi người trong gia đình đều tề tựu cùng nhau? Có thể với vài gia đình thì cảnh đầm ấm ấy vẫn duy trì nhưng chắc chắn rằng có không ít gia đình mỗi…