Một chương trình biểu diễn thời trang với người mẫu mang khẩu trang (Reuters)

"Tiểu sử" của chiếc khẩu trang

Ngày 11-08-2020 (GMT +7)

ByBẢO KHÔI

Chưa bao giờ khẩu trang lại là mặt hàng ‘HOT’ nhất trong nhiều tháng qua, kể từ khi xuất hiện coronavirus ở Trung Hoa lục địa cho đến khi nó thành đại dịch COVID-19 lan khắp toàn cầu. Sử dụng khẩu trang là một trong những biện pháp phòng, tránh bệnh, nhưng ít ai biết những điều lý thú về một thứ đang rất phổ biến như thế nào...

Đã hơn 10 năm của thế kỷ 21 nhưng ít ai nhớ chiếc khẩu trang ra đời từ trước thế kỷ 20. Đó là khẩu trang phẫu thuật – một thủ tục trong ngành y được dùng ở các nước phương Tây từ năm 1897. Cuối năm 1910, bác sĩ huyền thoại người Malaysia gốc Hoa, Wu Lien-the (Ngũ Liên Đức), giám đốc y tế của Trung Quốc đã đi sâu vào các khu vực bị ảnh hưởng của một bệnh dịch bệnh bùng phát ở vùng Đông Bắc Trung Quốc để giám sát việc phòng chống dịch bệnh. Trung Quốc đã sớm xác định dịch bệnh trên là một dạng bệnh dịch hạch viêm phổi lây lan bởi những giọt nước trong không khí. Ngoài việc đề xuất các biện pháp như cách ly bệnh nhân và kiểm soát chặt chẽ ở nhiều thành phố, bác sĩ Ngũ Liên Đức cũng thiết kế và phát minh ra một khẩu trang vệ sinh giá rẻ.

Trong giai đoạn 1912-1949, Trung Quốc tiếp tục trải qua những đợt dịch tả, đậu mùa, bạch hầu, thương hàn, sốt đỏ tươi, sởi, sốt rét và kiết lỵ. Trong đó, Thượng Hải đã chứng kiến 12 đợt dịch tả từ năm 1912 đến 1948. Chỉ riêng năm 1938, thành phố này báo cáo có đến 11.365 trường hợp bị nhiễm bệnh và gây tử vong 2.246 người. Năm 1929, chính phủ Trung Quốc phản ứng với đợt bùng phát viêm màng não bắt đầu ở Thượng Hải và lan ra toàn quốc, bằng cách khuyến khích người dân tặng khẩu trang và tránh các cuộc tụ họp công cộng. Bệnh viện ở Nam Kinh lúc bấy giờ đã bán khẩu trang cho công chức và người dân. Ở những thị trấn nhỏ như Bình Hồ ở phía Đông tỉnh Chiết Giang, cư dân được phát khẩu trang miễn phí.

Người mẫu Sasha Melnychuk mang chiếc khẩu trang “hàng hiệu” Collina Strada (minniemuse.com)

Khẩu trang phổ biến nhờ… bệnh dịch

Hình ảnh mọi người ra đường đều bịt kín mặt, trừ hai con mắt, hầu như rất phổ biến ở các nước châu Á kể từ sau dịch SARS bùng phát năm 2002 và cơn hoảng loạn cúm gia cầm năm 2006. Sau này, dù không có dịch, dân ở nhiều nước ra đường vẫn cứ đeo khẩu trang, để tránh bụi bặm, khói thuốc…Thói quen đeo khẩu trang lan sang các cộng đồng người châu Á nhập cư ở Mỹ.

Thật ra, chuyện đeo khẩu trang bắt đầu ở Nhật Bản cũng từ những năm đầu của thế kỷ 20, khi một đại dịch cúm giết chết khoảng 20 đến 40 triệu người trên khắp thế giới (nhiều số người chết trong Thế chiến thứ nhất). Lúc ấy chưa có khẩu trang, mọi người che mặt bằng khăn quàng cổ, hoặc tấm màn nhỏ mỏng khi ra đường để tránh bị lây nhiễm, cho đến khi dịch bệnh mờ dần vào cuối năm 1919. Không lâu sau đó, tại Nhật Bản, trận động đất lớn mang tên Kanto năm 1923 đã hình thành một “địa ngục khổng lồ” làm tan nát gần 600.000 ngôi nhà ở khu vực đông dân nhất của quốc gia này. Kinh khiếp hơn, nó làm cho bầu không khí ở xứ sở Phù Tang ngập đầy khói và tro bụi trong suốt nhiều tháng liền. Trên đường phố Tokyo và Yokohama khi ấy, chuyện bịt mặt khi ra đường trở nên bình thường.

Hơn 10 năm sau, một trận dịch cúm toàn cầu lần thứ hai vào năm 1934 đã khiến khẩu trang trở thành thứ không thể thiếu, đặc biệt đối với người dân Nhật Bản. Họ bắt đầu sử dụng đều đặn hơn nhất là trong những tháng mùa đông. Người Nhật vốn nổi tiếng với sự ‘lịch sự có thừa’, những người bị ho, cảm sơ sơ, cứ ra khỏi nhà là đeo khẩu trang vì sợ truyền mầm bệnh sang những người khác.

Vào những năm 1950, sau Thế chiến thứ hai, tình trạng ô nhiễm bầu khí quyển tăng lên, cùng với sự phát triển mạnh của cây tuyết tùng của Nhật bản – Japan Cedar – chứa phấn hoa khiến nồng độ carbon dioxide xung quanh tăng lên. Đeo khẩu trang đã đi từ ảnh hưởng theo mùa đến thói quen quanh năm. Ngày nay, người tiêu dùng Nhật Bản tốn tiền cho cái khẩu trang khoảng 230 triệu USD/năm. Các nước láng giềng như Trung Quốc và Hàn Quốc và nhiều quốc gia khác, trong đó có Việt Nam cũng đã áp dụng phương thức “phòng, chống” này khi môi trường cũng bị ô nhiễm, và khi có dịch bệnh.

Thời trang khẩu trang

Điểm mấu chốt là ở Đông Á, việc sử dụng các tấm che mặt để tránh tiếp xúc với không khí ô nhiễm là điều có trước lý thuyết mầm bệnh. Từ rất lâu, ở Thượng Hải, khẩu trang được quảng bá là phụ kiện thời trang để khuyến khích mọi người sử dụng. Để đối phó với dịch viêm màng não, nhà báo nổi tiếng Yan Duhe đã thảo luận về tầm quan trọng của việc đeo khẩu trang trên tờ báo Tân Văn báo xuất bản năm 1929, có tiêu đề “Phụ kiện thời trang mùa xuân: Khẩu trang đen.” Trong đó, Yan đề nghị các nhà thuốc nên dành lợi nhuận và bán các mặt hàng cần thiết để phòng chống dịch bệnh, bao gồm cả khẩu trang, với chi phí phải chăng.

Một geisha trong nhà hàng Asada (Tokyo) cũng mang khẩu trang (Reuters)

Những năm gần đây, việc đeo khẩu trang bắt nguồn từ những lý do khác và ngày càng hiện đại. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng trong số nhiều thanh niên Nhật Bản, khẩu trang đã phát triển thành “bức tường lửa xã hội” (firewall social). Thanh thiếu niên Nhật Bản mặt mang khẩu trang, tai đeo headphone là để báo hiệu rằng họ không mong muốn giao tiếp với người xung quanh. Họ hoàn toàn khỏe mạnh. Nhiều phụ nữ trẻ cũng áp dụng cách này nhằm tránh bị quấy rối trên các phương tiện giao thông công cộng.

Ngày nay, các nhà chức trách yêu cầu mọi người đeo khẩu trang để tự mình bảo vệ sức khỏe vì đây một trong những biện pháp dễ nhất và rẻ nhất để ngăn ngừa sự lan truyền virus gây mầm bệnh.

Bài viết liên quan

Đăng ký nhận bản tin