Suy tưởng

Suy tưởng

Ngày 10-10-2020 (GMT +7)

ByNGUYỄN TRUNG KIÊN

Xin mượn lời nhà văn Aleksey Tolstoy để làm lời đề tặng chị Đoan Trang: “Rồi năm tháng sẽ trôi đi, những cuộc chiến tranh sẽ chấm dứt, những cuộc cách mạng cũng sẽ thôi gào thét. Chỉ còn lại tình yêu nước thương dân và lòng quả cảm của chị là mãi mãi không phôi pha”...

MỘT TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN TRUNG KIÊN

JANUS ĐỨNG BÊN CỬA SỔ TRONG THƯ VIỆN QUỐC GIA cổ kính, lắng nghe tiếng chuông nhà thờ đổ dồn. Phòng đọc lớn chỉ còn có chàng với người thủ thư già, đang đắm chìm vào một cuốn sách cổ, quên cả thời gian. Ngoài kia, tuyết vừa ngừng rơi, khiến buổi chiều đông Praha càng thêm tĩnh lặng. Biết vẫn còn nhiều thời gian trước khi Thư viện đóng cửa, chàng quyết định bước ra ngoài phố, vừa đi dạo vừa đắm chìm trong trầm tư mặc tưởng.

Janus vừa gấp lại trang sách cuối cùng của một bộ tiểu thuyết lớn, kể về sự diệt chủng người Do Thái của phát-xít Đức trong Thế chiến thứ hai. Nhân vật chính trong tiểu thuyết khiến Janus bồi hồi xúc động nhớ đến ông nội chàng vừa qua đời mấy năm trước. Ông nội chàng cũng là một trí thức Do Thái. Với lòng quả cảm và nghị lực phi thường, ông đã may mắn thoát khỏi tầm kiểm soát nghiệt ngã của phát-xít Đức vào đầu thập niên 1940, khi gót giày của chúng giày xéo thành phố Praha cổ kính. Sau đó, ông cùng gia đình di cư sang Mỹ tị nạn chính trị rồi hồi hương sau chiến tranh, sống thêm gần hai thập niên nữa, để lại một đàn con cháu đông đúc và một sự nghiệp sáng tác kịch bản sân khấu còn dang dở.

Janus thở dài. Câu chuyện mới chỉ diễn ra cách đây gần ba thập niên nhưng chàng có cảm giác đã trở thành huyền sử. Trong mười người cháu cả nội lẫn ngoại, Janus là người được gần gũi với ông hơn cả. Là đứa cháu nội bé bỏng nhất của ông trong đại gia đình ba thế hệ sống chung dưới một mái nhà, chàng luôn được ông dành trọn vẹn tình thương yêu và sự chăm sóc ân cần nhất. Tuổi thơ của chàng đã trôi qua cùng với những câu chuyện ông kể cho chàng nghe trước khi đi ngủ về những nỗi đau khổ lớn lao của dân tộc Tiệp Khắc và của chính thế hệ ông khi trở thành tâm điểm trong những cơn ác mộng lớn của lịch sử. Mặc dù chỉ được sống chung với ông cho đến năm lên mười, nhưng trong ký ức sống động của mình, Janus vẫn nhớ rõ tiếng ngòi bút của ông cào trên mặt giấy rào rào, mỗi khi chàng trở mình thức giấc trong những đêm đông giá buốt.

Bây giờ, khi đã là nghiên cứu sinh ngành sử học của Đại học Charles – trung tâm học thuật lâu đời và danh giá nhất vùng Trung Âu, mỗi khi nhớ về ông nội với tình cảm và sự trân trọng đặc biệt, chàng lại xúc động lần giở những trang bản thảo còn dang dở của ông. Đó có thể là một tiểu luận nhỏ về triết học Nietzsche, một kịch bản sân khấu về những trang sử oai hùng của dân tộc Tiệp Khắc, một ghi chép về những sinh hoạt của giới trí thức tại Praha mà ông là một thành viên chính trong khoảng bình yên ngắn ngủi của thập niên 1920 sau Thế chiến thứ nhất, một trang nhật ký kể về nỗi nhọc nhằn tha hương nơi đất khách quê người của ông, hay những dòng cảm xúc khi lắng nghe các tác phẩm âm nhạc của Béla Bartók…

Janus bước đi trên những con phố nhỏ đã gần nghìn năm tuổi của thành phố Praha cổ kính, vẫn nằm im lìm bình thản chứng kiến bao cảnh thịnh suy, hưng phế. Thỉnh thoảng, trong những chuyến đi xa, sau khi giật mình tỉnh giấc và không ngủ lại được vì một giấc mơ lạ, chàng lại cồn cào nhớ về thành phố quê hương mà chàng đã yêu tha thiết đến từng viên đá lát đường. Praha là nơi chàng sinh ra và lớn lên, chắp cho chàng đôi cánh để bay vào thế giới. Thành phố này cũng là nơi lưu giữ giùm chàng những kỷ niệm đẹp đẽ của mối tình đầu trong trắng chàng đã dành cho một người con gái có màu mắt xanh, mà trước khi chia tay, chàng đã chép mấy lời của nhà văn Nga Aleksey Tolstoy vào sổ tay của nàng để làm kỷ niệm: “Rồi năm tháng sẽ trôi đi, những cuộc chiến tranh sẽ chấm dứt, những cuộc cách mạng sẽ thôi gào thét. Chỉ còn lại tấm lòng em, dịu dàng, nhẫn nại và đầy tình thương yêu là mãi mãi không phôi pha”. Đến khi trưởng thành, ký ức con người thường quên đi những điều lớn lao để nhớ về những điều giản dị. Một nụ cười hay một giọt nước mắt có thể ám ảnh người ta đến trọn đời. Trong hành trang của Janus luôn có một chỗ trang trọng dành cho những nụ cười và cả những giọt nước mắt của nàng…

Con sông Vltava xanh biếc trôi lững lờ qua thành phố quê hương chàng, soi bóng bao cung điện, lâu đài, tu viện, giáo đường nguy nga lộng lẫy, uốn lượn dưới những cây cầu cổ kính, chảy suốt từ thời viễn cổ đến tận ngày nay, mang theo khát vọng hòa bình đến cháy bỏng của một dân tộc anh hùng và bất khuất không bao giờ chịu cúi đầu làm nô lệ cho ngoại bang. Những ký ức về tiếng vó ngựa của đoàn quân xâm lược của Đế chế Ottoman, hay tiếng gươm khua trong những trận quyết chiến chống lại sự bành trướng của Đế quốc Áo-Hung, tiếng xích sắt của những đoàn xe tăng của phát-xít Đức nghiến lên những con phố thanh bình, rồi mới đây là tiếng hò reo phấn khích của quần chúng khi lịch sử chuyển mình trong sự kiện Mùa xuân Praha… vẫn còn sống động trong tâm thức nhân dân, giúp họ thêm trân trọng những năm tháng được sống trong thanh bình.

Qua bao thăng trầm của lịch sử, từng phải trải nghiệm những điều tồi tệ nhất, nhưng người dân Praha vẫn giữ được nếp sống dung dị phóng khoáng của vùng Trung Âu, vẫn có niềm tin son sắt vào tương lai tươi sáng. Mỗi lần đi dạo trong đêm khuya thanh vắng, qua các khung cửa sổ để ngỏ, Janus vẫn nghe thấy tiếng đàn violin khe khẽ, lúc êm ả dịu dàng như sóng nước hồ thu, khi tươi vui nhí nhảnh như tiếng sóc nhảy chim bay hòa lẫn với tiếng suối róc rách khi tuyết tan vào đầu Xuân, lúc dồn dập rộn ràng như vui chung niềm vui của người nông dân sau mùa gieo hạt, khi dặt dìu thanh thoát như muốn thể hiện chút buồn dịu nhẹ của một thôn nữ vùng Bohemia trong đêm mùa Hạ yên tĩnh.

Mùa Thu về, khi cỏ cây hoa lá rực rỡ trong ánh mặt trời, cảnh sắc hai bên bờ sông Vltava bỗng trở thành thiên đường hạ giới. Những tia nắng cuối chiều hắt xuống mặt sông loang loáng, như những vị Thiên Sứ đang tấu lên khúc hoan ca trong vũ điệu bất tận của Trời và Đất, nhắc nhở mọi người về một mái nhà đang đợi họ trở về trong yêu thương, sẻ chia và tha thứ, nhắn nhủ họ giữ gìn những mầm thiện đã được gieo trồng tưới tẩm suốt một ngày dài, chớ để bóng đêm hủy hoại. Làn gió thổi nhẹ khiến những tán lá sồi thêm xào xạc như đang nhảy múa reo cười, một chiếc lá sồi già rụng xuống xoay xoay trong nắng chiều. Bầy thiên nga nhẹ nhàng bơi trên sóng biếc như để làm chứng cho các đôi tình nhân đang nắm tay nhau đi dạo bên bờ sông thơ mộng. Đàn hải âu chao nhẹ xuống làn sóng nước rồi vút lên bay mải miết về phía biển xa. Người chiến binh già đi dạo bên bờ sông lộng gió, gương mặt nghiêm nghị như đang hồi ức về những năm tháng khói lửa chiến chinh. Người nghệ sĩ violin đường phố đắm mình vào một tác phẩm vui tươi rộn ràng của Johann Strauss. Tiếng cười giòn tan của lũ trẻ chơi đùa như khiến ánh mắt của người thiếu phụ thêm rạng ngời hạnh phúc. Một chàng trai trẻ ngồi đọc sách bên sông, thỉnh thoảng lại ngước lên nhìn về phía trời xa để trầm tư suy nghĩ. Những người chèo thuyền ngược sông về thượng nguồn cất tiếng hát một bài dân ca xưa. Tiếng chuông giáo đường ngân vang khiến khách bộ hành tạm dừng bước, trầm tư nguyện cầu Thượng đế... Tất cả cảnh sắc ấy từ lâu thấm đẫm vào tâm hồn của Janus, nâng bước chàng trên con đường tìm kiếm và xác lập các giá trị nhân văn, nhân bản. Janus thầm nhủ, một dân tộc được thừa hưởng những cảnh sắc thiên nhiên thanh bình đến vậy, thế nào cũng sẽ vượt qua được những mất mát và khổ đau để đến bến bờ hạnh phúc.

Cũng có lúc, thành phố này bị khoác một lớp áo hào nhoáng của đám quý tộc phong kiến hủ bại và tăng lữ suy đồi, sẵn sàng phản bội nhân dân để bảo vệ đặc quyền đặc lợi của chúng. Những lúc ấy, dường như dòng sông Vltava cũng muốn nổi những con sóng giận dữ để chia sẻ với nỗi thống khổ của nhân dân. Tuy vậy, những công hầu khanh tướng áo mũ xúng xính, xe ngựa nghênh ngang rồi cũng theo lửa hóa tro than, trả lại cho nhân dân một không gian tự do đích thực để họ có thể sáng tạo, gìn giữ các di sản quý giá của những thế hệ trước và bồi đắp cho các thế hệ sau. Mỗi khi giông bão lịch sử qua đi, nhân dân lại trưởng thành hơn, tự tin vào giá trị của mình hơn, và lại tiếp tục âm thầm lặng lẽ sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần để làm giàu nền văn hóa phong phú, lâu đời của dân tộc Tiệp Khắc.

Thời gian lại vùn vụt trôi đi. Lớp người già lần lượt qua đời trong hạnh phúc và viên mãn vì được chứng kiến bọn trẻ ngày một lớn lên, tiếp nối truyền thống văn hóa lâu đời của vùng Bohemia. Một thế hệ trí thức và văn nghệ sĩ mới ra đời để làm điểm tựa cho đời sống tinh thần, cho khát vọng hướng thượng của cả dân tộc. Có thể rồi lại có những tấn bi kịch xảy đến cho những bậc thức giả ấy khi họ dũng cảm đương đầu với những hủ bại của nền chính trị, nhưng những tấn bi kịch ấy rồi sẽ trở thành chất dinh dưỡng nuôi lớn lòng quả cảm và khát vọng tự do không gì dập tắt nổi của lớp thanh niên trí thức thế hệ sau, trong đó có Janus và nhiều bạn bè của chàng.

Janus đẩy nhẹ cánh cửa, bước vào quán càphê trong con ngõ nhỏ, một địa chỉ chàng thường lui tới mỗi khi cần yên tĩnh một mình. Chủ quán là một người đàn ông trung niên gầy gò, ít nói. Ông mỉm cười thay lời chào và dọn cho vị khách quen trẻ tuổi một ly càphê nóng cùng mấy điếu thuốc lá thơm.

Không khí trong quán càphê thật ấm cúng và dễ chịu. Ở góc phòng, chiếc máy quay đĩa cũ kỹ đang phát ra những hòa âm của một tác phẩm âm nhạc thính phòng. Tiếng đàn violin ngân lên khe khẽ, giống như tiếng gió thổi rì rào qua thảo nguyên mênh mông. Sau một thoáng lắng nghe, chàng nhận ra đó là bản tam tấu viết cho piano, violin và cello cung La thứ của Tchaikovsky, với tựa đề Tưởng nhớ người nghệ sĩ vĩ đại. Đây là tác phẩm thính phòng xuất sắc của người nhạc sĩ Nga thiên tài, được viết sau khi nhạc sĩ Nikolai Rubinstein, một người bạn âm nhạc thân thiết của ông qua đời.

Vì vậy, toàn bộ tác phẩm giống như một tiếng khóc cho kiếp người ngắn ngủi đầy bất trắc, và cũng là tiếng thở dài thể hiện những giằng xé nội tâm của giới trí thức và văn nghệ sĩ tiến bộ trước những bất toàn và bất định của lịch sử. Dường như mọi sáng tạo đích thực đều được hình thành trong đau khổ, bởi vì hiểu theo nghĩa nhân văn thì khổ đau cũng là một cách thụ hưởng riêng của con người. Janus khẽ lật giở cuốn sổ tay mang theo mình, đọc lại mấy dòng chữ nắn nót viết tặng chàng mấy hôm trước của Emile Cioran, nhà triết học Rumani xuất sắc, bạn vong niên của ông nội chàng, vừa sang Praha để trao đổi triết học với thầy của chàng và viếng mộ ông nội: “Tôi không thể phân biệt được nước mắt với âm nhạc (F. Nietzsche). Ai không tức khắc ngộ ra điều ấy thì là chưa hề thân thiết với âm nhạc. Mọi âm nhạc đích thực đều xuất phát từ cái khóc nảy sinh từ niềm tiếc nuối Thiên đường”…

Những sự kiện trọng đại trong hơn nửa thế kỷ qua, như một cuốn phim quay chậm, lướt qua trong tâm trí Janus. Các dòng người di cư đi tìm miền đất hứa, mang theo văn hóa của mình hòa trộn với nền văn hóa bản địa. Các triều đại phong kiến cũ kỹ lần lượt bước xuống sân khấu lịch sử, nhường chỗ cho các thử nghiệm về dân chủ và cộng hòa. Các nỗ lực hiện đại hóa và canh tân đất nước lần lượt được tiến hành. Nơi này thành công, nơi kia thất bại. Biên giới quốc gia liên tục bị dịch chuyển, lịch sử không ngừng bị xuyên tạc và viết lại, truyền thông bị bóp nghẹt, tự do học thuật và tư tưởng bị hạn chế tối đa, nhân cách và phẩm giá của con người bị cường quyền bạo lực nghiền nát và dìm xuống bùn đen. Nhân dân bị gạt sang bên lề lịch sử, phải chứng kiến những khổ đau của chính họ đang bị một lũ cơ hội chính trị trục lợi triệt để. Những vết thương lớn của các dân tộc chưa kịp lên da non thì đã bị các thế lực chính trị phản động tiếp tục chà đi xát lại...

Vì nhân loại luôn sống trong trạng thái chiến tranh và chuẩn bị chiến tranh, nên mỗi khi lắng lòng để nghe những âm thanh của lịch sử vọng về, Janus đều nhận ra rằng tiếng đàn lời hát không át được tiếng ngựa hí gươm khua. Những cơn gió vô tư lự không còn thổi trên thảo nguyên bao la của vùng Bohemia, chỉ còn sự im lặng rợn người báo trước cơn giông bão của lịch sử sắp đến. Trong những cơn giông bão ấy, biết bao phận người vô tội trong những dân tộc hiền hòa bị đưa ra làm vật thí nghiệm cho các nhân vật chính trị cực tả hay cực hữu đầy tham vọng vĩ cuồng. Biết bao người mẹ, người vợ và những đứa con thơ đang tựa cửa chờ con, mong chồng, ngóng cha từ chiến trường trở về.

Người ta không còn cảm nhận thấy mùi hoa cỏ đồng nội ngào ngạt, mà chỉ còn nồng nặc mùi thuốc súng quyện với mùi máu. Lũ chim bồ câu trắng đã xáo xác bay đi lánh nạn từ lâu, chỉ còn quạ đen bay từng đàn trên những hố chôn người tập thể. Những hàng thông xanh mướt trên các sườn đồi không còn là nơi buổi đầu hẹn ước của tình yêu tuổi trẻ mà đã bị đốn hạ để lấy chỗ đón hàng vạn thi thể của những chàng trai chưa kịp nói lời yêu đương vừa được đưa từ chiến trường trở về…

Thậm chí ở một nơi nào đó, trong một thời khắc nào đó, nhân danh đức tin và ý thức hệ, người ta còn cố tình hủy hoại những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của quá khứ, không một chút hối tiếc và xót xa, giống như xóa đi ván cờ đang chơi dở để chơi ván mới vậy. Bao tinh hoa được các thế hệ nhẫn nại bồi đắp nên phút chốc bị nát vụn dưới bàn tay bạo chúa. Thiên đường hạ giới đã trở thành địa ngục trần gian. Nhà văn Nga gốc Do Thái Ilya Ehrenburg phải thốt lên lời than thở: “Vào những hoàng hôn, không còn nghe thấy nữa tiếng dương cầm thánh thót trong các khung cửa sổ. Châu Âu nghèo đi rồi”.

Trên thực tế, dù ở đâu và trong thời đại nào, thì các trí thức và văn nghệ sĩ tiến bộ, với tinh thần nhân văn, nhân bản, cùng với lòng yêu nước nồng nàn và sự cảm thông sâu sắc với nỗi thống khổ của nhân dân, lại là những người phải chịu nhiều khổ đau hơn cả. Những khổ đau ấy đã tiếp thêm động lực giúp hậu thế vươn lên những đỉnh cao mới trong hành trình không ngừng nghỉ vươn tới các giá trị Chân, Thiện, Mỹ. Janus nhớ đến những người bạn của ông nội chàng – những trí thức và văn nghệ sĩ tiến bộ của dân tộc Tiệp Khắc anh hùng và đau khổ. Những con người đầy khả kính ấy thường tụ tập quanh lò sưởi trong căn phòng khách ấm cúng của ông nội chàng vào những đêm Đông giá buốt để cùng đau chung một niềm đau với sự trầm luân của dân tộc.

Trong số họ, có người nhiệt thành hiến dâng cuộc đời mình để dấn thân bảo vệ các giá trị nhân văn, nhân bản, có người cả đời làm việc một cách bình dị và lặng lẽ trong các tàng thư của thư viện, có người trải hết lòng mình trong những bài giảng cho các thế hệ sinh viên trên giảng đường, có người say sưa trong các chuyến điền dã bất tận về nông thôn để lưu lại di sản của cha ông, có người trở về vui thú điền viên nơi thôn dã để lánh xa thế sự, có người phải nếm trải nỗi nhọc nhằn tha hương, lại có người chấp nhận sống chung với nền độc tài để được yên thân làm chuyên môn rồi phải sống mòn mỏi trong nỗi xót xa ân hận của tuổi già vì những năm tháng trót thỏa hiệp với chính trị hủ bại mà quay lưng lại với nỗi thống khổ của nhân dân…

Họ đã tận hiến tinh hoa trí tuệ của mình cho cuộc đời theo đúng cách của một trí thức chân chính, nghĩa là trong thầm lặng. Họ là đại diện tiêu biểu cho phẩm giá, lương tri và khát vọng hướng thượng của cả dân tộc. Tất cả đều đã lần lượt lặng lẽ đi vào cõi vĩnh hằng, mang theo sự day dứt, niềm cay đắng, nỗi dằn vặt và sự ân hận khôn nguôi vì nhận thấy những lý tưởng cao cả và ước mơ đẹp đẽ mà họ mang theo suốt cuộc đời đã bị hiện thực lịch sử phủ định một cách đầy phũ phàng và tàn nhẫn. Phải chăng, chúng ta học lịch sử để rồi cay đắng nhận ra rằng về cơ bản chúng ta không học hỏi được gì từ lịch sử…

Tuy nhiên, Janus cũng nhận ra rằng, bên cạnh những tội ác chống loài người không thể tưởng tượng nổi của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa phát-xít, thì một thế hệ trí thức mới, trong đó có ông nội và thầy của chàng, đã trưởng thành trong âm hưởng của những giá trị nhân văn, nhân bản trong triết học Hy Lạp cổ đại và triết học cổ điển Đức, đặc biệt là trong tư tưởng triết học đầy tính cách mạng của Nietzsche, thổi bùng lên khát vọng tự do của nhân loại sau nhiều thế kỷ chìm đắm trong giáo điều và kinh viện, trong sự xung đột giữa tôn giáo và thế tục, giữa Nhà nước và Nhà thờ... Những khát vọng ấy bàng bạc trong các sáng tác của thế hệ sau, trong đó có những kịch bản sân khấu của ông nội chàng. Dường như các thế hệ sau này bị chói lòa bởi những tư tưởng triết học kỳ vĩ của Nietzsche, mà quên đi rằng, bên cạnh một Nietzsche triết gia còn có một Nietzsche thi sĩ – niềm tự hào của nền thi ca Đức. Janus nhớ lại, trong một kịch bản sân khấu của mình, ông nội chàng đã cho một nhân vật ngân lên những vần thơ đầy kiêu hãnh của Nietzsche:

“Vâng! Tôi biết tôi từ đâu đến!

Không thỏa thuê như ngọn lửa.

Tôi đốt cháy và tự đốt cháy mình.

Tất cả những gì tôi dựng lên đều thành ánh sáng.

Và tất cả những gì tôi để lại đều thành than.

Chắc chắn, tôi là ngọn lửa!”

Phải chăng, giống như bi kịch Prometheus bị xiềng khi đánh cắp ngọn lửa trên đỉnh Olympus xuống trần gian để soi sáng cho loài người, vẫn còn đó một bi kịch Nietzsche, bởi ngọn lửa tư tưởng triết học của ông đã soi rọi quá trình phát triển tinh thần của nhân loại trong suốt thế kỷ XX đầy máu và nước mắt này, giúp loài người vượt qua màn đêm dày đặc đầy hố thẳm của dục vọng, bản ngã, bạo động và vô minh. Các tác phẩm của Nietzsche là những áng hùng văn, đưa ra lời cảnh báo đầy tính thời sự cho sự hữu hạn của kiếp người: “Bổn phận của mi là lên đường đi đến hố thẳm, một cách rộng lượng, im lặng và không hi vọng”. Tất cả để giải phóng Con Người, một lần và mãi mãi… Và có lẽ vậy nên cuộc đời của Nietzche đã phải sống chung với nhiều xiềng xích, vượt quá sức chịu đựng của một kiếp người: nghèo túng, cô đơn, bệnh tật, đau đớn về thể xác, khủng hoảng về tinh thần, bị phủ định và bị chối từ.

Janus vừa trải nghiệm những tháng ngày sóng gió của sự kiện Mùa xuân Praha cuối thập niên 1960, được chứng kiến sức mạnh không gì cản nổi của khát vọng tự do, của lòng quả cảm khi lương tri con người được thức tỉnh. Đó cũng là lúc các giá trị nhân đạo cổ điển lâu đời của nền học vấn châu Âu, của đức tin Kitô bền bỉ và mãnh liệt được hồi sinh trong các sinh hoạt của giới trí thức. Không khí tự do học thuật mới mẻ tràn đầy khắp các giảng đường đại học khiến những thanh niên trí thức trẻ tuổi như Janus nhận ra rằng chàng và bạn bè của chàng cũng đang trở thành nhân chứng lịch sử cho những biến động quan trọng sắp diễn ra. Chàng nhớ đến người thầy mà chàng vô cùng ngưỡng mộ, cũng là một người bạn vong niên thân thiết của ông nội chàng.

Chàng từng chứng kiến những cuộc tranh luận giữa ông nội và thầy của chàng về quá khứ, hiện tại và tương lai của dân tộc Tiệp Khắc và các dân tộc vùng Trung Âu trước sự đe dọa của chủ nghĩa đế quốc. Đó là những cuộc tranh luận trên tinh thần trân trọng lẫn nhau nhưng cũng không kém phần quyết liệt, làm sống lại tinh thần đối thoại của Socrates: cùng nhau đi dạo dưới rặng ôliu để ban tặng cho nhau lòng yêu mến sự thông thái. Biết bao trí thức lớn của đất nước Tiệp Khắc đã trưởng thành từ những trang bản thảo triết học thấm đẫm tinh thần nhân văn – nhân bản của thầy. Họ đã đọc những trang bản thảo ấy và đối thoại triết học với thầy trong bí mật hoàn toàn, bởi vì thời chàng sống là thời mà những người đàng hoàng phải làm những việc tử tế một cách lén lút, còn những kẻ “ác tâm tàng hình” thì lại thực hiện mưu mô bẩn thỉu của chúng một cách công khai...

Janus dùng diêm bật lửa, châm một điếu thuốc, khe khẽ rít một hơi, rồi ngả người xuống ghế, nhắm mắt lại, lòng trào dâng tình cảm thành kính với người thầy của mình. Thầy của chàng, một vị triết gia uyên bác và đầy quả cảm trước cường quyền, vừa bước qua ngưỡng cửa của tuổi sáu mươi, mới được đón trở lại giảng đường trong sự hân hoan chào đón đặc biệt của đồng nghiệp và sinh viên. Thầy là biểu tượng của một thế hệ triết gia đã tự nguyện đập vỡ tháp ngà của giáo điều và kinh viện sau bao thế kỷ chìm đắm trong sự xung đột bất tận giữa các trường phái và học thuyết. Họ đã bước từ trang sách ra cuộc đời với khí phách hiên ngang của những người trí thức chân chính để “xuống đường” cùng dấn thân giải quyết những vấn đề lớn mà thời đại đặt ra.

Những bài giảng về triết học và lịch sử của thầy đã và đang chắp cánh cho thế hệ của chàng bay vào những chân trời rộng xa thấm đẫm những giá trị nhân văn, nhân bản của triết học Hy Lạp cổ đại và triết học cổ điển Đức, hướng thế hệ trí thức trẻ đến những giá trị vĩnh hằng của tự do, dân chủ, nhân văn, nhân bản, khoan dung, tiến bộ và khai sáng. Thầy nhắc lại lời tự sự của nhà triết học Đức vĩ đại Immanuel Kant, sau này được khắc trên văn bia của Kant tại Đại học Kaliningrad: “Hai điều tràn ngập tâm tư với sự ngưỡng mộ và kính sợ luôn luôn mới mẻ và gia tăng mỗi khi nghĩ tới, đó là: bầu trời đầy sao trên đầu tôi và quy luật đạo đức ở trong tôi”.

Janus nhớ lại, trong bài giảng ngày hôm qua trên giảng đường, thầy của chàng đã nói rằng, cả triết học và chính trị đều trỗi dậy tại các thành bang cổ đại của Hy Lạp như là những cách diễn đạt khác nhau về tự do, làm nền tảng để tái định hình châu Âu với tư cách là một lục địa thống nhất trong đa dạng, vốn đang bị chia rẽ sau hai cuộc đại chiến thế giới và những cuộc cách mạng long trời lở đất. Ôi! Thật đáng kính trọng và cảm động thay, một vị triết gia vừa bước vào tuổi già, nếm trải bao nhiêu vùi dập của sóng gió thời đại như thầy của chàng, mà vẫn luôn đau đáu, vẫn lên tiếng mạnh mẽ để bảo vệ khát vọng tự do của toàn thể nhân loại tiến bộ và tố cáo đanh thép những thể chế tôn giáo, chính trị đầy bảo thủ và khắc nghiệt luôn tìm cách kìm hãm và thủ tiêu tự do của con người.

Janus ngước lên ngắm những bức tranh treo trên tường. Chàng dừng lại nhìn đăm đăm vào bức họa Cái chết của Socrates do họa sĩ Pháp Jacques–Louis David sáng tác trong những năm tháng tràn đầy tinh thần tự do, bình đẳng, bác ái của cuộc Cách mạng tư sản Pháp. Nhà hiền triết Socrates – người bị bức tử vì những cáo buộc “làm hư hỏng đầu óc của thanh niên thành Athens” đã trở thành một biểu tượng bất tử của sự minh triết và suối nguồn bất tận của lòng khoan dung. Với đức khiêm tốn cao cả của một con người minh triết và đạo đức bậc nhất, ông tự thừa nhận giá trị duy nhất của ông là nhận ra được sự ngu dốt của chính mình. Với lời tuyên bố: “Tôi không dạy điều gì cả, tôi chỉ khiến người ta suy nghĩ”, Socrates đã vượt qua biết bao thử thách và cám dỗ của kiếp người, vượt lên những toan tính và mưu đồ chính trị.

Lánh xa các tòa lâu đài với những tảng đá cẩm thạch lạnh lẽo, nơi mà đấng quân vương và giới quý tộc sa đọa biến triết học thành thứ trang điểm cho sự ngu độn và hợm hĩnh của chúng, nhẹ nhàng bỏ lại những tranh đoạt chính trị đằng sau mỗi bước chân chậm chạp khoan thai, ông một mình lầm lũi bước đi trên những con đường lộng gió biển Địa Trung Hải của thành Athens, kết bạn với những công dân cần lao mà bình dị: một nghệ sĩ thổi sáo, một bác thợ thuộc da, một anh bán hàng rong, một gã chủ quán rượu, một chàng sinh viên nghèo... Bằng phát ngôn nổi tiếng, “Người ơi, hãy tự biết mình”, ông đã giúp con người tự truy vấn bản thân về giá trị, ý nghĩa và sứ mệnh của sự hiện hữu làm người, dạy con người phải biết nuôi dưỡng sự hoài nghi, kể cả hoài nghi đối với những tín điều mà họ chắc chắn nhất.

Ông đã kéo triết học từ thế giới trừu tượng của các ý niệm xuống mặt đất, biến triết học trở thành thứ ánh sáng soi rọi lương tri nhân loại, hướng triết học từ nỗ lực tìm kiếm ý nghĩa từ thế giới vật thể bên ngoài con người thành một hành trình tìm kiếm ý nghĩa từ thế giới phi vật thể ở bên trong con người, qua đó thổi linh hồn của bản thể luận vào sự phát triển của triết học. Chính vì vậy, gần một thế kỷ sau khi Socrates qua đời, thì Aristotle, khi trở thành vị hiền triết già của thành bang Athens, đã nhắn nhủ học trò của mình là Alexander Đại đế bằng một câu bất hủ rằng: “Thế giới mà con cần chinh phục là thế giới ở bên trong con”, khi Alexander đến chào thầy để đi chinh phục thế giới…

Janus thầm nhủ, dường như nhân loại vẫn chưa học được gì nhiều từ cái chết của vị triết gia vĩ đại của thành bang Athens cách đây gần 2.400 năm. Cái chết của Socrates vẫn còn nguyên giá trị thời sự, giúp nhân loại tự truy vấn mình về giá trị và ý nghĩa của sự hiện hữu làm người, về vai trò, vị trí và phẩm tính của người trí thức trước những thử thách lớn lao của thời đại. Qua bao thăng trầm của lịch sử, bao nền văn minh phát triển rực rỡ rồi tàn lụi và bị chôn vùi dưới cát sa mạc, bao tinh hoa của trí tuệ nhân loại bị chôn vùi trong những cuộc binh lửa, nhưng mối quan hệ triết gia – quân vương dường như vẫn luôn đầy tính bi kịch, trong đó người thua cuộc luôn là các triết gia. Niềm mơ ước đầy cao cả của Plato – học trò của Socrates – về một nền cộng hòa thiện hảo, trong đó quân vương đồng thời là triết gia, và triết gia đồng thời là quân vương dường như vẫn còn rất xa vời trước những biến động của thời đại này…

Đêm ấy, Janus trở về căn nhà xưa tràn đầy kỷ niệm về ông nội. Chàng chép vào sổ tay mấy vần thơ của Sándor Petöfi, nhà thơ – chiến sĩ đã hi sinh anh dũng ở tuổi 26 trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc Hungary. Những dòng thơ ấy sau này sẽ được dùng làm đề từ cho bản luận án tiến sĩ sử học mà chàng đệ trình tại Đại học Charles:

“Tự do và ái tình,

Vì các ngươi ta sống.

Vì tình yêu lồng lộng,

Ta dâng hiến đời ta.

Vì tự do muôn đời,

Ta hi sinh tình ái”.

Tác giả Nguyễn Trung Kiên là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Việt Nam đương đại

Bài viết liên quan

Đăng ký nhận bản tin