Sai sót trong “Từ điển Thành ngữ-Tục ngữ Việt-Hán” của Nguyễn Văn Khang

Bài 2A: Nhiều dị bản không tiêu biểu, “dị bản lạ”, thiếu chính xác, không thấy bất cứ cuốn từ điển nào ghi nhận

ByHOÀNG TUẤN CÔNG

Ngày 11-10-2020 (GMT +7)

 

Thành ngữ tục ngữ thường tồn tại nhiều dị bản. Bởi vậy, để lựa chọn được bản chính xác, người biên soạn từ điển cần dựa vào nhiều căn cứ. Ví dụ căn cứ vào từ điển, kho ngữ liệu hoặc công trình sưu tầm tuyển chọn có uy tín của người đi trước; căn cứ kết cấu, ngữ nghĩa của từng từ; căn cứ kiến văn nghe đọc trên sách báo và trong đời sống để xác định bản nào là bản chính. Trong đó, từ điển và kho ngữ liệu là hai nguồn tham khảo quan trọng nhất.

Tuy nhiên, dường như nhiều khi tác giả Nguyễn Văn Khang (NVK) đã lựa chọn các bản thành ngữ tục ngữ đại diện cho cả hai phía ViệtHán theo cảm tính, huy động theo trí nhớ. Bởi vậy, “Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt – Hán” thu thập nhiều dị bản không tiêu biểu, “dị bản lạ”, thiếu chính xác, không thấy bất cứ cuốn từ điển nào ghi nhận. Sau đây là một số dẫn chứng (Chúng tôi đánh số tiếp theo kì trước để tiện chú dẫn khi cần thiết. Với những mục chỉ sai ở phía thành ngữ tục ngữ Việt, thì chúng tôi lược bỏ phần đối chiếu với thành ngữ tục ngữ Hán. Nếu tất cả các cuốn từ điển chúng tôi có trong tay đều không ghi nhận dị bản như NVK đưa ra, sẽ được đánh kí hiệu [K] cuối mỗi mục trao đổi):

16-“đầu không chăn đít không khố”.

               Ở bản in năm 1998 (NXB Khoa học Xã Hội), thấy viết là “đầu không khăn, đít không khố”. Không hiểu sao đến bản in năm 2008 (NXB Văn hoá Sài Gòn), NVK lại chữa thành “đầu không chăn…” rất kỳ dị. “Khăn” và “khố” là hai thứ trang phục tối thiểu của người đàn ông Việt xưa kia. Bởi vậy “khăn khố” được hiểu là quần áo trang phục nói chung. “Đầu không khăn đít không khố” là cách nói thậm xưng của dân gian, chế giễu, ám chỉ người nào (thường vì vội vàng hoặc hốt hoảng) mà không kịp ăn mặc tề chỉnh, khiến tình trạng lôi thôi lếch thếch đập vào mắt người khác. [K].

17-“ếch ngồi (/nằm) đáy giếng 坐井觀天”.

               Tiếng Việt chỉ có “ếch ngồi đáy giếng”, không có dị bản “ếch nằm đáy giếng”. “Ngồi” ở đây không những tả thực tư thế của loài ếch nhái, mà còn ám chỉ cuộc sống bó hẹp trong một phạm vi nhất định, giống như con ếch khi bị sa chân xuống giếng, chỉ biết ngồi một chỗ, bó gối mà ngóng nhìn lên bầu trời. Vả lại, nguyên văn bản trong tiếng Hán “坐井觀天” (toạ tỉnh quan thiên) thì “toạ cũng có nghĩa là “ngồi” chứ không phải “nằm”. [K].

18-“hơn (/ghét) nhau tiếng gáy”.

               Tiếng Việt chỉ có “con gà tức nhau tiếng gáy” hoặc “gà tức nhau tiếng gáy”. “Tức” ở đây là tức khí, muốn tranh hơn thua. Chúng tôi không thấy sách vở nào ghi nhận hai dị bản “hơn nhau tiếng gáy” hay “ghét nhau tiếng gáy” như NVK thu thập.

Về nghĩa đen, gà trống có tập tính đua tranh bằng tiếng gáy, thể hiện dáng điệu hùng dũng, khoe bộ cánh sặc sỡ để bảo vệ lãnh địa và quyến rũ gà mái. Bởi vậy, khi một con gáy lên, lập tức hàng loạt con khác gáy theo, cảm tưởng có sự tức khí, ganh đua (“tức nhau”) ngấm ngầm. Con nào cũng muốn tiếng gáy của mình to hơn, vang hơn. Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam (Nhóm Vũ Dung): “gà tức nhau tiếng gáy [Con gà tức nhau tiếng gáy] Tâm lí thích ganh đua, chơi trội, không chịu được khi thấy người khác hơn mình”. Trong khi “hơn nhau tiếng gáy” lại có nghĩa sự hơn thua, xấu tốt của một con gà được đánh giá qua tiếng gáy; còn “ghét nhau tiếng gáy” chỉ dừng lại ở nghĩa: những con gà thường không ưa nhau, ghen ghét nhau vì tiếng gáy (“ghét” ở đây đồng nghĩa với “ghét” trong “trâu buộc ghét trâu ăn”).[K].

19-“gái đĩ già mồm, (kẻ trộm cắn răng)”.

               Chỉ có tục ngữ “gái đĩ già mồm, kẻ trộm lắm gan”, không có “kẻ trộm cắn răng”. “Lắm gan” ở đây được hiểu là to gan, không biết sợ là gì.[K].

20-“hồn bay phách lạc”.

               Theo lối nói thông tục “hồn bay phách lạc” không sai, nhưng nên dùng bản chính “hồn xiêu phách lạc” được nhiều từ điển ghi nhận. Theo đây, tiếng Việt có từ “xiêu lạc” mà “Việt Nam tự điển” (Lê Văn Đức) giảng là: “Lạc-loài nơi xa lạ: Không biết nó xiêu-lạc nơi nào”. “Xiêu” ở đây đối với “lạc”, tức là sợ đến mức hồn thì xiêu, phách thì lạc đi phương trời nào không biết. Thế nên dị bản của “hồn xiêu phách lạc” là “hồn lạc phách xiêu”. Đây là kết cấu thường thấy trong thành ngữ tiếng Việt, đó là tách hai yếu tố cấu tạo từ trong một từ ghép đẳng lập ra để tạo nên một thành ngữ: sưng sỉa = mặt sưng mày sỉa; xác xơ = nghèo xác nghèo xơ; bác xác bác

Từ điển Hoàng Phê (Vietlex): “hồn xiêu phách lạc •  sợ hãi đến mức mất hết cả tinh thần, hồn vía. Đn: phách lạc hồn xiêu”.[K].

21-“không có trâu bắt ngựa đi cày 無牛狗拖犁”

               Mục này NVK cho rằng, thành ngữ “không có trâu bắt ngựa đi cày” trong tiếng Việt đồng nghĩa “無牛狗拖犁” (vô ngưu cẩu đà lê = không có trâu bắt chó kéo cày) tiếng Hán. Tuy nhiên, tiếng Việt không có thành ngữ “không có trâu bắt ngựa đi cày”. Chính xác phải là “không có trâu bắt bò đi đẫm” (dị bản không có chó bắt mèo ăn cứt). Thành ngữ này liên quan đến đồng chiêm trũng, và ruộng trâu quần (một tập quán canh tác lúa nước cổ xưa của nhiều dân tộc như Thái, Tày, Mường...) Theo đó, “bắt bò đi đẫm” chỉ việc bắt con bò đi cày bừa, “quần” ở chân ruộng lầy thụt, không hợp với sức vóc của nó, nên con bò “cày ruộng”, “quần ruộng”, mà giống như ngụp lặn, đẫm mình trong bùn nước.

Nếu “không có trâu bắt ngựa đi cày”, thì đây cũng không phải điều gì quá tệ hại, bởi nhiều dân tộc trên thế giới vẫn cày bừa bằng ngựa. Không rõ căn cứ vào đâu NVK lại đưa ra dị bản lạ “không có trâu bắt ngựa đi cày”, trong khi ngoài bản “không có trâu bắt bò đi đẫm”, thì tiếng Việt còn có “trâu không có, bắt chó đi cày” hoàn toàn tương ứng với “vô ngưu cẩu đà lê” (không có trâu bắt chó đi cày) trong tiếng Hán.[K].

22-“kị () hổ nan hạ 騎虎難下cưỡi lên lưng hổ; cưỡi hổ khó xuống”.

               Tục ngữ Việt gốc Hán chỉ có “kị  hổ nan hạ” (kị hổ = cưỡi hổ), không có “ hổ nan hạ”. Lỗi này từng xuất hiện trong hai cuốn “Từ điển chính tả tiếng Việt phổ thông” (2003) và “Từ điển tiếng Việt” (2018) của đồng tác giả GS. TS. Nguyễn Văn Khang.[K].

23-“ngọng hay nói què thích (hay) đi”.

               Nên chọn bản chính “điếc hay ngóng, ngọng hay nói” (dị bản “người câm hay nói, thầy bói hay nhòm/dòm”) thể hiện sự chặt chẽ trong kết cấu, tạo nhịp điệu của dân gian.[K].

24-“người làm không bực bằng người chực nồi”.

               Chính xác phải là “Người đi không bực bằng người chực nồi cơm”. “Đi” ở đây là vắng nhà, đi đâu đó chưa về, khiến người ở nhà phải sốt ruột nhấp nhổm đợi cơm, thì mới “bực”.[K].

25-“no cơm ấm cật dậm dật trong lòng (/tay chân/tứ bề)”.

Chính xác phải là “no cơm ấm cật dậm dật mọi nơi” (dị bản: No cơm ấm cật, dậm dật mọi nơi/Đói rách tả tơi, khắp nơi không động).

26-“núp bóng cây tùng 大樹底下好乘涼”.

Chính xác là “núp bóng tùng quân”, vì “tùng” cây tùng, “quân” cây trúc nhỏ; phải là “tùng quân松筠 mới có nghĩa là cây tùng và cây trúc. “Tùng quân” là từ trong văn chương chỉ cây cao bóng cả, tượng trưng cho người quân tử, vốn trong “Kinh lễ”:

-Hán ngữ đại từ điển: “tùng quân: cây tùng và cây trúc. “Lễ kí – Lễ khí” có đoạn: “Với mỗi người, lễ ấy giống như cây trúc quân tử có cật cứng, như loài tùng bách có lõi bền. Nhờ có hai điều cốt yếu ấy mà trong thiên hạ, tùng trúc tứ thời không rụng lá thay cành”. Về sau lấy “tùng quân” để ví với tiết tháo kiên trinh”.[松筠:松樹和竹子.“禮記‧禮器”:“其在人也,如竹箭之有筠也,如松柏之有心也.二者居天下之大端矣,故貫四時而不改柯易葉.”後因以“松筠”喻節操堅貞].

-Việt Nam tự điển (Hội Khai trí Tiến đức): “tùng-quân • Cây thông, cây trúc. Nói chung là những cây cao bóng cả. Nghĩa bóng: Nói người có thế-lực che chở cho kẻ yếu-hèn <> Nghìn tầm nhờ bóng tùng-quân, Tuyết sương che chở cho thân cát-đằng (K)”.

27-“ốc chẳng (/không) thể mang nổi mình ốc (lại còn mang cọc cho rêu)”.

Không hiểu tại sao NVK lại đưa cụm từ “lại còn mang cọc cho rêu” vào ngoặc đơn. Nếu NVK xem “ốc chẳng (/không) thể mang nổi mình ốc” là một dị bản, thì “dị bản” này không có nghĩa. Mặt khác, bản chính xác phải là “ốc chẳng mang nổi mình ốc, lại còn làm cọc cho rêu”. Nghĩa đen: Cả rêu và ốc đều bám vào cọc. Riêng ốc di chuyển rất nặng nề khó khăn, ấy vậy mà trên thân (vỏ) của nó lại thấy đầy rêu bám, tựa như ốc lo thân ốc chưa nổi mà lại còn làm cọc cho rêu bám vậy.

28-“ôn nghèo nhớ khổ”.

Nên lựa chọn bản “ôn nghèo kể khổ”. Phải là “kể khổ” (mang tính chất kể lể) thì trong buổi hàn huyên, trà dư tửu hậu, bạn bè mới nghe được những khó khăn vất vả thuở hàn vi; còn “nhớ khổ” có khi chỉ là hồi tưởng trong lòng.[K].  

29-“phải ai tại nấy”.

Bản chính xác là “phải ai tai nấy” (dị bản phải ai nấy chịu). “Tai” đây là tai hoạ; “tai nấy” là tai hoạ người ấy/nấy phải chịu:

 -Việt Nam tự điển (Khai trí Tiến đức): “tai1 Cái hoạ nạn bất thình-lình sẩy đến <> Trời ra tai. Mắc tai, mắc nạn. Vạ gió, tai bay. Văn-liệu: Phải ai tai nấy (T-ng)”.[K]

30-“quan ở xa quản nha thì gần”.

Chính xác phải là “quan thì xa, bản nha thì gần”, dị bản “quan xa nha gần”  “quan thời xa nha thời gần”. “Quan” được hiểu là quan trên, cấp trên; “nha” hay “bản nha” là nha lại sở tại, nha môn địa phương: cấp trên quang minh chính đại không biết đến, trong khi kẻ gần dân hơn cả lại sách nhiễu dân. Thế nên còn có câu “quan tha, nha bắt”: thoát được sự sách nhiễu của quan trên, thì lại chịu sự o ép của nha lại địa phương.

31-“quan tham ô lại 貪官污吏 ≈ tham ô quan lại”.

               Bản Hán “貪官污吏” (tham quan ô lại) đúng, nhưng cả hai bản Việt đều sai. Theo đây, chỉ có “tham quan ô lại”, không có “quan tham ô lại”, càng không có “biến thể” nào gọi là “tham ô quan lại” như NVK hướng dẫn. [K].

32-“quảng cáo rùm beng 大吹大擂”.

               Mục này NVK cho rằng “quảng cáo rùm beng” trong tiếng Việt đồng nghĩa với “大吹大擂” (đại xuy đại lôi) trong tiếng Hán. Tuy nhiên, mục này có hai điểm cần trao đổi:

-Tiếng Việt không có thành ngữ nào gọi là “quảng cáo rùm beng”.

-Căn cứ cách giảng của Hán ngữ đại từ điển: “đại xuy đại lôi: 1. đánh trống và tấu nhạc lên cùng một lúc; 2. quảng cáo phô trương ầm ĩ”, thì thành ngữ Hán này tương đương với “khua chiêng gõ mõ”, hoặc “khua chiêng gióng trống” trong tiếng Việt.

               Như vậy, “quảng cáo rùm beng” không phải là thành ngữ Việt, mà chỉ là nội dung dịch từ “đại xuy đại lôi” trong tiếng Hán (chúng tôi sẽ dành riêng một mục để nói về những cái sai do lấy phần dịch nghĩa thành ngữ tục ngữ Hán để ấn vào vị trí thành ngữ tục ngữ Việt của soạn giả NVK).[K].

33-“rành rành trước mắt”.

               Tiếng Việt chỉ có “rành rành như canh nấu hẹ”, không có “rành rành trước mắt” (đây là tổ hợp từ tự do, hoặc quán ngữ, không phải thành ngữ).[K].

34-“rồng uốn hổ ngồi 龍蟠虎踞”.

               Thành ngữ Việt chỉ có “rồng cuộn hổ ngồi”, không có “rồng uốn hổ ngồi”. Bản thân chữ “bàn” 蟠/盤 trong “龍蟠虎踞”/“龍盤虎踞” (long bàn hổ cứ) của tiếng HánNVK so sánh, có nghĩa là “cuộn”, chứ không phải “uốn”. “Long bàn” 龍蟠 (rồng cuộn) chỉ thế ẩn tàng, đối với “hổ cứ” 虎踞 (hổ ngồi) chỉ uy dũng mà không lộ tướng, nói lên vẻ hiểm yếu, hùng vĩ của thế đất đế vương.[K].

*****

Phần A của Kỳ 2Thu thập nhiều dị bản thành ngữ tục ngữ Việt thiếu chính xác; nhiều dị bản không tồn tại trong cả tiếng Việt lẫn tiếng Hán”, chúng tôi xin tạm dừng tại đây. Mời bạn đọc đón đọc Phần B trong số báo tiếp theo.

 

MỜI XEM LẠI: “Từ Điển Thành Ngữ-Tục Ngữ Việt-Hán” Của Nguyễn Văn Khang Sai Những Gì?

Bài viết liên quan

Đăng ký nhận bản tin