Nước ruốc chan nỗi nhớ

ByNGÂN HÀ

Ngày 17-08-2020 (GMT +7)

Thấy chị gái ngồi thẫn thờ nhìn ra ban công trời Sài Gòn đang chuyển màu sẫm sắp đổ tràn cơn mưa ức chế oi ả cả ngày, tôi hỏi: “Chị nhớ bồ hả?”.

“Giờ thèm ăn bánh khoái chấm nước ruốc quá!”- “Vì trời mưa hả chị?”- “Ừ, hồi nhỏ, cứ tới mùa mưa gió, bà nội ngâm gạo một đêm, sáng sớm kêu anh Hai ra xay bột. Ảnh mạnh nhứt nhà nên quay cái cối ra bột nhanh. Bọn chị hái rau sống với bào bắp chuối rồi chẻ cọng rau muống rửa sạch. Mấy chị em tranh nhau đổ bánh khoái. Thời đó, sau 1975, “đói toàn diện” nên bánh không có nhân, chỉ có mấy cọng giá thôi, mỡ heo cũng hiếm nên bà nội chuẩn bị có được chừng vài miếng mỡ, đứa nào đổ khéo thì phải chà miếng mỡ đó cho hai chục cái bánh mỏng, mềm, thơm phức, mà giỏi nhứt là bánh ít mỡ mà vẫn giòn rụm. Còn bà nội sẽ làm nước ruốc chấm”.

Sau khi cho nước ruốc khuấy đều sẽ nổi màu vàng nghệ rất đẹp

Chị kể, làm nước ruốc chấm ở vùng quê Hải Lăng, Quảng Trị cũng đơn giản, quan trọng nhất là phải có củ ném. Nước ruốc là một loại nước chấm trong bữa ăn thường ngày của người dân nơi đây. Chị tôi sinh ra và lớn lên ở đây, ký ức về những ngày mưa gió quyện trong mùi nước ruốc và thơm thơm bánh bột gạo luôn mang lại cho chị một cảm xúc ấm áp khó tả. Chị nói, không ai làm nước ruốc ngon hơn mệ (bà nội) của chị cả. Về sau, mệ mất, dù mấy chị em đứa nào cũng biết làm (mà ai ở đây cũng biết làm) nhưng không hiểu vì sao nước ruốc của mệ vẫn là ngon nhất, có lẽ trong cái ký ức đó, chị đã chan cả tình thương cội nguồn “cửu huyền thất tổ” vào miếng bánh của mình.

Tô nước ruốc đã hoàn tất sau khi cho lá ném hoặc hành lá xắt nhuyễn

Nước ruốc xứ Quảng Trị không chỉ để chấm bánh khoái. Nếu một ngày không đi chợ kịp mua thịt cá hoặc nhà nghèo chỉ còn có lọ ruốc, phụ nữ trong nhà sẽ làm món nước ruốc để ăn với rau luộc hoặc chan với cơm mà vẫn ngon, bọn nhỏ sẽ vét sạch nồi không còn một hột.

“Món nước ruốc ngày xưa thì có ruốc gì làm ruốc đó. Nhưng ngày nay người ta khá giả lên rồi nên họ chọn mua ruốc thiệt ngon hoặc nổi tiếng của vùng Quảng hoặc Huế để pha”, chị gái tôi nói.

Chị bày ra bếp các thứ để làm món nước ruốc và làm tuần tự từng bước, chậm rãi, chăm chút. Đầu tiên chị lấy chừng một vốc tay củ ném, cắt đầu từng củ ném nhỏ, lột vỏ ngoài, rửa sạch rồi bỏ vô cối giã nhuyễn. “Phải giã cối em à, nó nhuyễn nhừ vậy chớ ngon hơn xay bằng máy”. Chị chỉ biết vậy thôi vì điều này thuộc về trực giác chớ tôi tin rằng không có khoa học nào giải thích được vì sao giã cối lại ngon hơn máy xay. Chị múc một muỗng canh ruốc cho vào tô nước lạnh, khuấy đều. Chị vừa xắt lá ném vừa nói: “Nếu không có lá ném thì dùng lá hành cũng được”.

Sau đó chị bắt đầu bỏ vô chảo vài miếng mỡ xắt nhỏ, khi mỡ đã ra và tóp mỡ đã vàng, chị cho củ ném đã giã nhuyễn vô chảo, phi thơm. Hương ném bốc lên theo làn khói tràn căn bếp, chị mới rắc ớt bột vô đảo đều. Khi màu của ném và ớt bột đã ứa ra nước màu, chị mới từ từ đổ chén nước ruốc vô, vừa đổ tay vừa khuấy, rồi chị nêm nếm thêm chút gia vị cho vừa miệng. Tôi thấy chị cầm chai nước mắm thì hỏi: “Đã có ruốc mà vẫn cần nước mắm hả chị?”- “Vì mình không nêm muối thì nêm mắm cho thơm hơn và càng ngon”, tôi gật gù thấy chí lý quá.

Mùi nước ruốc đã ngào ngạt khiến cho cái bụng cũng réo gào theo, trước khi bắc chảo nước ruốc ra, chị bỏ lá ném xắt nhuyễn vô và đổ vào cái tô trắng.

Chị nói tôi đã đúc được mấy cái vỏ bánh khoái rồi, tôi nói mới có 5,6 cái thôi. Nhưng hai chị em không dừng được nên mỗi đứa múc ra chén mấy muỗng nước ruốc, lấy rau sống bỏ vô bánh khoái cuộn tròn rồi chấm ăn.

Người ta ăn bằng cách dung vỏ bánh khoái cuộn rau sống chấm trong chén nước ruốc ngập vị thơm, béo dậy mùi mắm quê nhà.

Bỗng tôi thấy chị gái ngưng lại, rồi nước mắt chảy dài, “chị nhớ quê quá!”, tôi vỗ vỗ vào vai chị, miếng bánh trong miệng chấm món nước ruốc vừa ngọt thơm cay nay còn có vị… nhớ nên càng đậm đà, sâu thẳm.

Tôi đã nhắm từ trước dặn chị nấu nhiều nhiều để dành bỏ hũ ngày mai chấm rau luộc, chị nói cũng được. Nhưng muốn ăn thì làm liền ăn như vầy chắc ngon hơn bỏ tủ lạnh hâm lại. Dù sao thì món nước ruốc nhà quê làm ở thành thị cũng có khác chút, vì thuở nay, ai cũng bận rộn, sống nhanh nên bỏ thời gian làm một món nước chấm tự thấy “xa xỉ” quá.

Nhưng lúc tôi vừa ăn vừa nghe chuyện nhà quê chạy giặc năm xưa của chị, thấy thấm mùi má. Chị kể rằng quê chị lửa đỏ chiến tranh suốt. Những người mẹ chạy giặc lo con bồng con dắt nên chỉ mang theo bịch gạo với chai ruốc chớ không mang bất kỳ gì. Tôi hiểu rằng, dù ngay cả trong thời loạn ly, để có được bữa ăn nghèo mà vẫn có chút mùi quê, người phụ nữ miền Trung nào cũng dành hết tâm hết sức cho bữa ăn đạm bạc, miễn là có tô nước ruốc nồng nàn vị. Để con cái sau này, ăn mà nhớ, mà thương, mà không bao giờ là kẻ “vong bổn”. Vậy thì tại sao giờ người ta lại tiếc gì mà không dành thêm một giờ cho bữa ăn chan nỗi nhớ cho con sau này?

Chén nước chấm ruốc bây giở đã trở thành huyền thoại của gia đình tôi, khi mà mấy đứa con thế hệ của thế kỷ “online” cả ngày có thể ăn gà rán với hamburger. Mỗi lần trời mưa, tụi nhỏ lại kêu chị tôi nấu: “Má Hà, bữa nay làm bánh khoái không nhưn chấm nước ruốc đi, má Hà làm nhiều nhiều con ăn vài chục cái mớ no!”.

Cũng nhờ chén nước ruốc, mà mấy đứa nhỏ miền Nam biết tới mùi ném, biết ăn củ ném và không còn nghe “lạ”, “khó ăn” nữa.

Kể chuyện làm có món nước chấm ruốc thôi mà cũng dông dài không phải để giết thời gian mà là mong giữ lại không gian ký ức quê nhà cho thế hệ sau.

Bài viết liên quan

Đăng ký nhận bản tin