Ở Việt Nam, quanh năm có cỡ chừng 12 cái Tết lớn nhỏ, nhưng Tết Nguyên Đán là cái Tết quan trọng và đáng nhớ nhứt. Cái Tết này không chỉ mở đầu năm mới theo lịch âm, mà còn là dịp làm cho năm giác quan của người Việt được dịp thỏa thích, tận hưởng trọn vẹn hương vị Tết quê nhà.
Có nhiều định nghĩa về hạnh phúc. Tuy nhiên, con người thật sự hạnh phúc là khi họ còn đủ năm giác quan: thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác. Chỉ khi đó, người ta mới có thể trực tiếp trải nghiệm vẻ đẹp đến từ cuộc sống, thiên nhiên, con người và xã hội.
Tết là khoảng thời gian đặc biệt để năm giác quan của người Việt cảm nhận, ghi nhớ và hồi tưởng những hình ảnh, âm thanh, mùi vị và tình cảm thiêng liêng gắn liền với gia đình, họ hàng và tổ tiên. Mùa xuân ở Việt Nam không chỉ là xuân của đất trời, mà còn là xuân của lòng người bởi đây là thời điểm gắn liền với Tết, dịp sum họp gia đình trong năm.

Tết Nguyên Đán là dịp năm giác quan của người Việt được thỏa thích
Trong một kiếp người, không có phước lành nào lớn hơn khi người ta có một đôi mắt nhìn đời, nhìn gương mặt của những người thân thương: ông bà, ba má (nếu may mắn còn họ sống cùng), vợ chồng, con cái, họ hàng, bạn bè, ân nhân.
Tết là dịp hiếm hoi để người Việt xa quê có cơ hội gặp lại những gương mặt thân quen, tận hưởng niềm vui sum họp gia đình và lặng lẽ quan sát từng đổi thay của người thân sau một năm xa cách. Ngắm Má với mái tóc thêm nhiều sợi bạc, nhìn Ba với gương mặt hằn sâu thêm những nếp nhăn, lòng chợt nhói lên một nỗi xót xa. Thấy anh chị em có phần rạng rỡ, hồng hào hơn, lòng bỗng thấy vui lây. Ngắm đám cháu lớn hơn năm trước, lanh lợi hơn, lòng lại dấy lên niềm hy vọng về một tương lai xán lạn đang chờ phía trước.
Đôi mắt cũng giúp người ta chứng kiến cảnh đẹp quê hương, chiêm ngưỡng vẻ đẹp thiên nhiên, ngắm nhìn sắc xuân rực rỡ mỗi độ Tết về. Vào những ngày cận Tết, lòng người chợt vui khi bắt gặp ngoài đường hình ảnh những người đàn ông chở trên xe gắn máy những chậu bông cúc, bông vạn thọ, bông mai vàng rực rỡ, hay chậu tắc sai trái, lủng lẳng chùm quả tròn tròn, xinh xắn.
Còn gì bằng khi một luồng gió ngược thổi qua làm những cánh hoa vàng rung rinh trong nắng nhẹ. Mùi thơm của bông cúc, bông vạn thọ thoảng qua, đủ làm người ta ngất ngây trước hơi thở mùa xuân. Vào thời khắc ấy, biết đâu người đàn ông trong chính gia đình mình cũng đang trên đường mang về nhà những chậu hoa chỉ nở vào dịp Tết. Và khi mình trở về, sắc hoa ngập tràn trong sân, trong nhà, rực rỡ đón chào.
Khi gia đình quây quần bên nhau, tiếng cười tiếng nói hòa cùng tiếng nhạc rộn ràng làm bừng lên bầu không khí ấm áp, xua tan những tháng ngày lặng lẽ, cặm cụi làm việc vất vả suốt một năm dài. Đây cũng là dịp mà những ca khúc nhạc vàng về mùa xuân – được sáng tác trước năm 1975 – lại tái sinh, mang theo giai điệu cuốn hút và lời ca ẩn chứa nhiều ý nghĩa.
Chính những bản nhạc ấy đã khơi dậy trong lòng người lớn tuổi, nay đã ngoài sáu mươi, biết bao ký ức xưa cũ. Dòng ký ức ấy đưa họ ngược dòng thời gian, trở về với những năm tháng sống trong thể chế cũ. Lúc ấy, cuộc sống tuy không giàu sang nhưng ít biến động và sự lo lắng, ngoại trừ nỗi lo “VC tới”.
Trong không khí rộn ràng tiếng nhạc, người lớn tuổi kể lại cho thế hệ sau những câu chuyện về một thời đã qua. Hồi ấy, người miền Nam không phải nơm nớp lo âu vì giá điện, giá xăng tăng liên tục, hay chính sách của chính quyền thay đổi chóng mặt như hiện nay. Cũng vì vậy, thời Việt Nam Cộng Hòa có rất ít người Việt phải rời bỏ quê hương để tìm kiếm cuộc sống tự do ở những quốc gia phát triển.

Bao nhiêu đó vẫn chưa đủ để làm nên một cái Tết trọn vẹn, nếu thiếu mùi thơm rất đặc biệt trong những ngày này. Mùi thơm dễ chịu đó chỉ xuất hiện khi người ta bước ra đường quê vắng lặng, vang vọng tiếng chó sủa trong đêm. Đó là mùi bông xoài hòa quyện cùng mùi nhang tỏa ra từ những ngôi nhà giữa làn gió đêm mát rượi. Trên con đường đi thăm bạn bè hay họ hàng, người ta bỗng thấy tinh thần lắng lại, như được gột rửa bởi luồng không khí trong lành sau bao ngày sống giữa khói bụi thành thị. Ở đó, có biết bao con người xa quê vẫn ngày ngày bôn ba mưu sinh.
Dù có muốn tụ tập bạn bè hay đi đâu khỏi nhà, ngày 30 Tết nhứt định người ta luôn ở nhà, dùng bữa cơm sum họp cùng gia đình. Có người vui miệng nói rằng: “Hết 30 coi như hết Tết”. Vào ngày cuối cùng của tháng Chạp này, gia đình làm một bữa cơm trang trọng để rước ông bà, tổ tiên, những người đã khuất, về “ăn Tết” cùng con cháu. Sau đó, cả nhà quây quần bên mâm cơm tiễn năm cũ, đồng thời tiễn luôn những điều không may mắn và sự xui xẻo của năm vừa qua.

Trong bữa cơm ấy, người ta lại có dịp nếm trọn vẹn mùi vị khó quên của ngày Tết. Đó cũng là bữa cơm đầu tiên trong mùa Tết mà người ta thực sự cảm nhận được hương vị quê nhà. Làm sao có thể quên được vị bánh tét mềm dẻo béo ngọt, vị cải ngâm nước tương giòn mặn ngọt cay, vị dưa kiệu và dưa hành nồng chua ngọt cay, cùng vị thịt kho tàu thơm béo mặn ngọt cay.
Gia đình vừa dùng bữa vừa trò chuyện rôm rả, ngắm những chậu hoa tươi trong nhà. Ai cũng dành tặng lời khen người phụ nữ trong gia đình đã nấu bữa cơm ngon lành và người đàn ông đã chọn được hoa tươi đẹp, vừa mắt lại vừa túi tiền.
Từ những ngày cuối năm (23 Tết trở đi) cho đến những ngày đầu năm mới, những người ruột thịt thường trao nhau tình cảm đầm ấm và sự bao dung. Mọi lỗi lầm của bất kỳ ai trong gia đình hay họ hàng cũng có thể được tha thứ, nhằm tránh những tranh luận căng thẳng trong dịp Tết và chỉ mong sao những điều tốt lành sẽ đến với tất cả mọi người. Những cái nắm tay làm hòa như một liều thuốc an lành, mang đến sự bình yên lạ kỳ, xua tan mọi căng thẳng và năng lượng tiêu cực tích tụ suốt một năm dài.
Sáng mùng Một, các thành viên trong gia đình, với tinh thần vui vẻ, không còn gút mắc trong lòng, khoác lên mình bộ quần áo tươm tất, quây quần bên chiếc bàn. Cả nhà vừa nhâm nhi mứt dừa vừa chúc Tết ba má, anh chị em và phát lì xì cho lũ trẻ. Người ta chúc ông bà, ba má dồi dào sức khỏe bớt vất vả vì con cháu, chúc anh chị em một năm mới làm ăn phát đạt và có của cải “vừa đủ xài”. Người lớn nghe tụi nhỏ ngọng nghịu chúc Tết mà không khỏi bật cười. Đồng thời, người lớn cũng nhắn nhủ mong các cháu mau lớn, ngoan ngoãn, chăm học, dù không cần điểm 10 nhưng mục tiêu vẫn là “học tới nơi tới chốn” để tương lai bớt cơ cực.

Mời tổ tiên về “ăn Tết”
Tết mà không nhắc đến mâm ngũ quả trên bàn thờ tổ tiên của người miền Nam là một thiếu sót lớn. Mâm ngũ quả miền Nam thể hiện lòng người khiêm tốn, không tham lam ảo vọng, nhưng dí dỏm và lạc quan. Người miền Nam chỉ cúng năm loại quả như mãng cầu, sung, dừa, đu đủ và xoài, ghép lại thành câu nói theo kiểu miền Nam: “Cầu sung dừa đủ xài”.
Người miền Nam không bày mâm ngũ quả đồ sộ, không chưng la liệt lễ vật phủ kín bàn thờ tổ tiên hay bàn thờ ông địa và thần tài. Bởi người miền Nam không tin rằng cúng nhiều lễ vật sẽ được phù hộ giàu “nứt đố đổ vách” mà chỉ mong gia đình “sung túc vừa đủ xài” trong năm mới.
Trưa 30 Tết, gia đình nào cũng làm mâm cúng tổ tiên mời ông bà về nhà cùng ăn Tết. Và đến trưa mùng 3 Tết, người ta lại làm mâm cúng tiễn ông bà về lại cõi cực lạc. Mâm cúng tổ tiên của dân miền Nam tùy theo từng gia đình, có thể là món mặn linh đình, cũng có thể chỉ là món chay thanh đạm, cốt sao con cháu có thành tâm mời và tiễn.

Mê Tết nhứt là tụi con nít
Trong khi người lớn bận rộn chuẩn bị Tết, thậm chí sợ Tết nếu không có tiền, thì tụi con nít luôn mê Tết. Hồi những năm trước 1994, tụi con nít rất mê tiếng pháo dây nổ “đì đùng đì đùng bùm bùm” vang rền suốt những ngày Tết, đặc biệt là vào thời khắc cúng Giao thừa. Hồi đó, tụi nhỏ ráng thức đến 12 giờ khuya chỉ để đón nghe tiếng pháo nổ vang vọng khắp vùng trời. Sáng mùng Một Tết, sau khi chúc Tết ông bà, ba má, tụi con nít lại háo hức đi lượm những viên pháo chuột, pháo trung màu đỏ chưa kịp nổ trong đêm giao thừa, nằm rải rác trên sân nhà mình và cả nhà hàng xóm.
Tụi nhỏ ngày ấy còn đùa vui với nhau những câu nói hài hước như “Mùng Một Tết ba, mùng Hai Tết má, mùng Ba Tết thầy” hay “Ba ngày xuân bốn ngày xẹp”. Đúng vậy, ba ngày đầu năm là những ngày vui nhứt. Tụi con nít được ăn thức ăn ngon, mặc quần áo mới, chơi thỏa thích mà không sợ bị người lớn la rầy. Còn bốn ngày xẹp thì chẳng thấy đâu, vì sang mùng Bốn, người lớn lại bịn rịn tạm biệt gia đình, trở về nơi tha hương tiếp tục mưu sinh.
Tụi con nít cũng là những “khán giả” nhiệt tình cổ võ các đội múa lân xuất hiện rộn ràng vào dịp tất niên, giao thừa và khai xuân trong xóm làng. Học theo người Hoa, không ít người Việt mời đội múa lân đến nhà nhằm cầu tài, cầu lộc, cầu may mắn cho năm mới. Thế nhưng, tụi con nít mê mẩn điệu múa lân hơn cả người lớn.
Cả đám thích thú chen chúc để nhìn con lân oai hùng uốn lượn vượt qua những chướng ngại vật, leo thật cao… để nhận phần thưởng. Bên cạnh ông địa mặc áo đỏ bụng phệ, tay cầm quạt phe phẩy theo từng nhịp trống vang rền: “Tùng tùng tùng cắc cắc cắc!”, tiếng chập cheng đều đặn kêu “cheng cheng cheng!”, và tiếng thanh la vang “keng keng keng keng!” rổn rảng.
Kết
Tết Bính Ngọ sắp về, mong sao không còn ai phải nghẹn ngào thốt lên lời nhắn gửi ba má câu nói đầy xót xa: “Xuân này con không về”. Thương cho những ai bỏ lỡ cơ hội cùng người thân và gia đình cảm nhận trọn vẹn không khí, hương vị, hình ảnh, âm thanh và tình người của mùa Tết.









