Khi “văn hóa lướt” chiến thắng “văn hóa lật”

Khi “văn hóa lướt” chiến thắng “văn hóa lật”

Ngày 07-07-2020 (GMT +7)

ByLÊ THẢO CHI

Sự cần mẫn, tỉ mỉ biên soạn và cóp nhặt dữ liệu giờ đây gần như đã biến mất khi chỉ cần gõ vào hộp tìm kiếm Google người ta có thể tìm thấy gần như bất cứ gì. Điều đáng nói là thói quen này càng làm cho bộ não con người trở nên bị động, chậm chạp và ù lì hơn!

Nicholas Carr – một trong những cây bút xuất sắc chuyên đề tài công nghệ thông tin và ảnh hưởng của nó lên văn hóa đương đại – từng đặt vấn đề rằng, “liệu Google có làm cho chúng ta ngu?”. Tác giả cho biết mình trở thành tín đồ của thế giới trực tuyến hơn một thập niên qua và thừa nhận Internet đã đóng góp rất lớn cho sự nghiệp nghiên cứu-viết lách của ông. Tuy nhiên, như nhà lý thuyết học truyền thông Marshall McLuhan từng chỉ ra vào thập niên 1960, rằng truyền thông không chỉ là kênh thông tin bị động mà nó còn mang lại dòng chảy tư tưởng và góp phần định hình tư tưởng.

Trong khi đó, Internet khiến trí não bây giờ tiếp cận thông tin theo cách thức mà nó cung cấp: loạt dòng chảy dữ liệu chuyển động không ngừng nghỉ. Miêu tả rằng mình từng là anh thợ lặn trong đại dương chữ nghĩa nhưng bây giờ chỉ có thể lướt trên bề mặt ngọn sóng với tốc độ vù vù như cưỡi chiếc canô, Carr nói thêm ông không là trường hợp duy nhất. Nhiều người bạn của ông, đặc biệt trong giới học thuật, cũng kể rằng họ có cảm giác tương tự. Càng sử dụng Internet nhiều, họ càng chiến đấu khó khăn hơn để có thể tập trung vào việc đọc sách.

Scott Karp – người lập một trang blog về truyền thông trực tuyến – gần đây cũng thú nhận anh đã phải vẫy tay tạm biệt văn hóa đọc (ở đây được hiểu là đọc sách in). “Tôi theo môn văn chương hồi đại học và từng là con mọt sách cần mẫn” – Scott viết – “Bây giờ thì sao? Chuyện gì đã xảy ra? Sau thời gian chỉ đọc trên mạng, văn hóa đọc của tôi đã thay đổi, khiến tôi cảm thấy mệt mỏi và trở nên lười kinh khủng khi cầm quyển sách”. Bruce Friedman – nhà nghiên cứu thuộc Đại học y Michigan – cũng cho biết tư duy mình bây giờ trở nên bị ngắt quãng đột ngột, thể hiện ở việc ông thường xuyên lướt net và dò những đoạn thông tin ngắn ngủn trong khi thờ ơ hẳn với sách in. “Tôi không thể đọc Chiến tranh và hòa bình nữa. Tôi đã mất khả năng làm điều đó. Thậm chí một blog có nhiều hơn ba hoặc bốn đoạn đối với tôi giờ đây cũng là quá nhiều để có thể hấp thu. Tôi chỉ có thể đảo mắt lướt nhanh qua thôi” – Bruce nói.

Một nghiên cứu gần đây do University College London thực hiện cho biết con người thời đại ngày nay đang ở đoạn giữa của tiến trình thay đổi nghiêm trọng trong việc đọc và tư duy. Trong khuôn khổ chương trình nghiên cứu năm năm, nhóm học giả University College London đã khảo sát hành vi các đối tượng lướt net tại hai website nghiên cứu nổi tiếng (một của Thư viện quốc gia Anh và địa chỉ kia thuộc một tổ chức giáo dục Anh) và nhận thấy những người sử dụng hai website trên đều có “hành vi lướt” tương tự nhau.

Họ thoăn thoắt “nhảy cóc” liên tục từ đường dẫn này đến đường dẫn khác và hiếm khi quay lại đường dẫn cũ. Họ chỉ đọc không quá một hoặc hai trang của một bài viết hoặc quyển sách (trực tuyến) rồi lại nhúc nhích tay điều khiển con chuột để “nhảy rào” vượt qua đường dẫn khác. Thỉnh thoảng họ lưu lại một bài báo dài nhưng chẳng ai biết họ có đọc lại kỹ sau đó hay không. Và nếu đọc theo cách như vậy, thử hỏi có bao nhiêu thông tin “in” được vào não và người đọc tiêu hóa được bao nhiêu dữ liệu theo cách lướt “ba chớp, ba nhoáng” tương tự?

Theo nhà tâm lý học Maryanne Wolf thuộc Đại học Tufts, tác giả quyển Proust and the Squid: The Story and Science of the Reading Brain, câu hỏi đáng được quan tâm bây giờ không là “bạn cho tôi biết bạn đọc sách gì” mà phải là “bạn cho tôi biết bạn đọc như thế nào?”. Khi đọc trực tuyến, theo Wolf, chúng ta có khuynh hướng “đơn giản là những người giải mã những chùm thông tin rời rạc”; và khả năng diễn dịch, để làm giàu thêm sự liên kết tư duy được hình thành khi chúng ta đọc sâu và không bị sao nhãng, gần như đã biến mất!

Việc đọc, Maryanne Wolf giải thích, không là kỹ năng tự nhiên của loài người. Nó không có sẵn trong bộ gien mà kỹ năng nói vốn có. Do đó, chúng ta phải dạy bộ não cách đọc, cách chuyển những ký tự biểu trưng thành ngôn ngữ mà chúng ta hiểu. Do vậy, phương tiện truyền thông và những kỹ thuật khác mà chúng ta sử dụng để học và thực hành sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành bộ “vi mạch” thần kinh (xử lý việc đọc) trong não. Nhiều thí nghiệm cho thấy những người đọc chữ tượng hình, chẳng hạn chữ Hán, luôn phát triển “bộ mạch” xử lý việc đọc rất khác so với bộ mạch ở những người sử dụng ngôn ngữ alphabet (sự khác biệt thể hiện ở nhiều phần khác nhau trong não trong đó có những phần quan trọng liên quan chức năng nhận thức chẳng hạn bộ nhớ và phần diễn dịch hình ảnh lẫn âm thanh).

Do vậy, bộ vi mạch được “dệt” bởi cách sử dụng Internet có thể không giống với bộ mạch hình thành từ việc đọc sách và những ấn phẩm in khác… Khoảng năm 1882, triết gia Đức Friedrich Nietzsche mua cái máy đánh chữ hiệu Malling-Hansen Writing Ball. Lúc đó, thị lực ông bắt đầu kém và việc tập trung dán mắt vào trang viết làm ông nhanh chóng nhức đầu. Ông buộc phải viết ít hơn và bắt đầu lo sợ ngày nào đó mình không còn viết được. Thế là cái máy đánh chữ cứu ông. Tuy nhiên, khi đã thành thục gõ máy chữ đến mức chẳng cần nhìn bàn phím, Nietzsche cũng bắt đầu thay đổi văn phong, theo cách mà ông không hề nhận ra. Một người bạn, vốn là nhà soạn nhạc, cho biết văn phong Nietzsche bắt đầu cụt lủn và khô khan. Chính Nietzsche cũng thừa nhận điều đó. Nhà nghiên cứu truyền thông Đức Friedrich A. Kittler viết rằng, những câu chữ mượt mà của Nietzsche đã “thay đổi từ lối hùng biện tranh cãi thành những câu cách ngôn, từ tư duy thành ý tưởng lụn vụn, từ hoa mỹ thành phong cách điện tín”…

Dưới góc độ khoa học, não người, kể cả ở đối tượng trưởng thành, vẫn “rất đàn hồi như cao su” – theo James Olds (giáo sư thần kinh học, giám đốc Viện nghiên cứu cấp tiến Krasnow thuộc Đại học George Mason). Các tế bào thần kinh thường xuyên phá vỡ những liên kết cũ và hình thành liên kết mới. “Não bộ” – James Olds cho biết – “có khả năng tái lập trình và thay đổi cách vận hành cũng như chức năng”. Và như nhà xã hội học Daniel Bell từng khẳng định, kỹ thuật luôn ảnh hưởng văn hóa con người. Lấy ví dụ cái đồng hồ. Với sự ra đời của đồng hồ, con người đã có thể quyết định lúc nào ăn, ngủ, làm việc…, thay vì chỉ dựa vào bản năng tự nhiên. Nói cách khác, tiến trình thích ứng với kỹ thuật mới đã phản ánh những thay đổi trong cách sống.

Ngày nay, Internet không chỉ là cái đồng hồ. Nó còn là tấm bản đồ, “tờ” tạp chí, cái máy đánh chữ, chiếc điện thoại, radio và truyền hình… (những công cụ in đậm dấu ấn trong lịch sử phát triển văn minh nhân loại). Thế cho nên, chẳng có gì lạ khi nó đã và đang làm thay đổi sâu sắc tư duy con người. Văn hóa đọc không là ngoại lệ. Cái bóng Internet phủ lên đời sống ngày một lớn đến mức nó tác động ngược lại vào văn hóa truyền thống. Cách đây vài năm, tờ New York Times đã quyết định không in đầy đủ bài viết ở trang hai-ba và thay vào đó là những đoạn trích. Giám đốc thiết kế Tom Bodkin giải thích rằng trong thời buổi “thông tin hối hả” và độc giả quen đọc lướt, những “đoạn đường tắt” như vậy sẽ giúp người đọc có thể “nếm” nhanh những bản tin trong ngày! Đó là một cách “chia sẻ” với “văn hóa đọc vội” của thế hệ độc giả trực tuyến phổ biến hiện nay.

Trong một nghiên cứu, David Mindich, chủ nhiệm khoa báo chí Đại học Saint Michael, cho biết giới trẻ Mỹ hiện có khuynh hướng không đọc báo; chúng chỉ xem truyền hình, nghe radio hoặc xem tin tức trên Facebook. Các con số thống kê cho thấy vấn đề rõ hơn: năm 1970, trung bình có 72% đối tượng độ tuổi 18-24 đọc báo vào ngày cuối tuần, không thua mấy so với tỉ lệ ở đối tượng lớn tuổi hơn; hiện thời, chỉ 40% đối tượng trẻ đọc báo vào cuối tuần, so với 66% ở người từ 55 tuổi trở lên. Vậy rốt cuộc, liệu Internet có làm cho người ta “ngu” hơn? “Ngu” hơn thì không chắc nhưng chắc chắn lười đọc hơn, làm biếng động não hơn và có khi lệ thuộc tuyệt đối vào các nền công nghệ thông tin như Google và Facebook…

Bài viết liên quan

Đăng ký nhận bản tin